Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

hợp đồng thành lập công ty ở việt nam


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "hợp đồng thành lập công ty ở việt nam": http://123doc.vn/document/1055304-hop-dong-thanh-lap-cong-ty-o-viet-nam.htm


đồng. Do đó có thể nói, đề tài hợp đồng thành lập công ty là một đề tài liên
quan tới nhiều vấn đề pháp lý ở các lĩnh vực khác nhau. Nhng pháp luật dân
sự, nhất là luật nghĩa vụ, và pháp luật thơng mại là hai lĩnh vực có liên quan
trực tiếp nhất tới hợp đồng thành lập công ty. Tuy nhiên, pháp luật thơng mại
nói tại đây đợc hiểu theo quan niệm chung của thế giới mà công ty luôn là
một chế định thuộc nó.
Vì là một lĩnh vực rộng, nên luận án chỉ tập trung vào nghiên cứu các
đặc thù của pháp luật về hợp đồng thành lập công ty để làm rõ các vấn đề có
tính nguyên tắc cần thiết nhất cho việc xây dựng và hoàn thiện chế định này ở
tầm bao quát, mà không đi cụ thể vào hợp đồng thành lập công ty trong từng
chuyên ngành hẹp.
Luận án đợc thừa hởng rất nhiều công trình nghiên cứu sẵn có về các
lĩnh vực bao quát ở tầm cỡ lớn hơn tạo tiền đề cho luận án này, nên luận án
này không đề cập lại những vấn đề đó, nhất là trong lĩnh vực pháp luật về
nghĩa vụ và hợp đồng nói chung. Đồng thời, trong những lĩnh vực chuyên biệt
hơn mà đòi hỏi một vài chi tiết khác biệt trong việc thành lập công ty, luận án
này cũng đã rất may mắn đợc thừa hởng những lập luận sâu sắc của những ng-
ời soạn thảo nên những văn bản pháp luật tơng ứng nh: bảo hiểm, tài chính,
ngân hàng, hàng không, hàng hải Do vậy, luận án cũng không nghiên cứu
vào các lĩnh vực này.
5. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu
Là một đề tài thuộc khoa học xã hội, luận án đợc đặt trên nền tảng chủ
nghĩa Mác - Lênin và t tởng Hồ Chí Minh và lấy những quan điểm của Đảng
về việc xây dựng đất nớc trong thời kỳ đổi mới làm kim chỉ nam cho mọi nỗ
lực tìm tòi, nghiên cứu vì mục tiêu "dân giàu, nớc mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh". Luận án kế thừa những công trình lý luận của các học giả
Việt Nam ngày nay về các lĩnh vực nh: xây dựng nhà nớc pháp quyền; cải
cách thể chế chính trị; cải cách hành chính; cải cách t pháp; cải cách pháp
5
luật; dân chủ hóa đời sống xã hội; xã hội hóa nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội;
xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trên các nền tảng đó, luận án đã sử dụng các phơng pháp nghiên cứu
chung của khoa học xã hội nh: phơng pháp duy vật biện chứng, phân tích lịch
sử, phân tích, tổng hợp, mô hình hóa, điển hình hóa ; và các phơng pháp
nghiên cứu riêng của khoa học pháp lý nh: phân tích qui phạm, phân tích hệ
thống, so sánh pháp luật, công thức hóa qui tắc pháp lý
6. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án
Với mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể, trong một phạm vi nhất định, luận án
có những điểm mới cơ bản sau:
- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách bao quát, có hệ
thống lý luận pháp luật về hợp đồng thành lập công ty hiện nay ở Việt Nam.
- Luận án đã phân tích và đánh giá một cách tơng đối có hệ thống hiện
trạng pháp luật về hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam.
- Trong phần kiến nghị những định hớng và giải pháp cơ bản, luận án
đã đa ra đợc những định hớng và giải pháp cụ thể nhằm xây dựng chế định
hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam hiện nay và cách thức xây dựng chế
định này, những nội dung pháp lý chủ yếu của nó và việc pháp điển hóa chế
nó trong Bộ luật Dân sự và các đạo luật về thơng mại
- Luận án có những điểm đáng lu ý nhất là xây dựng mô hình lý luận
về hợp đồng thành lập công ty, phân tích sâu các khiếm khuyết của pháp luật
hiện hành về vấn đề này và có kiến nghị các giải pháp cụ thể. Cụ thể, những
điểm đáng lu ý nhất là xây dựng nền tảng lý luận của pháp luật về hợp đồng
thành lập công ty, phân tích và đánh giá lịch sử phát sinh và phát triển của loại
hợp đồng này, xây dựng mô hình hệ thống pháp luật về hợp đồng thành lập
công ty, lý luận về cách thức góp vốn, phân tích các nguyên nhân vô hiệu của
công ty, và việc kiến nghị các giải pháp lập pháp tơng ứng.
6
7. Kết cấu của luận án
Luận án, xuất phát từ mục tiêu và thực trạng có nhiều khiếm khuyết
của hệ thống pháp luật hiện nay ở Việt Nam, đã tiếp cận vấn đề bố cục theo ý
tởng: Nghiên cứu, tìm tòi nguồn khách quan của pháp luật về hợp đồng thành
lập công ty, hay nói cách khác, nghiên cứu các quan hệ xã hội phát sinh ra
nhu cầu điều chỉnh pháp luật và các qui luật tác động, chi phối chúng tạo
thành nền tảng lý luận hay các tiêu chuẩn tất yếu của loại hợp đồng này để từ
đó phân tích thực trạng của pháp luật Việt Nam hiện nay cần bổ sung hoặc sửa
đổi, rồi định hớng và tìm kiếm giải pháp bổ sung, sửa đổi cụ thể. Vì vậy, luận
án bao gồm ba chơng sau:
Chơng 1: Lý luận cơ bản về hợp đồng thành lập công ty. Trong ch-
ơng này, luận án tìm kiếm cơ sở lý luận tạo tiền đề cho việc nghiên cứu đặc
điểm, nội dung, điều kiện có hiệu lực, sự vô hiệu của hợp đồng thành lập công
ty, và các trờng hợp sửa đổi và chấm dứt hợp đồng thành lập công ty.
Chơng 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng thành lập
công ty. Tại đây, luận án phân tích các đặc điểm hiện thời của pháp luật về
hợp đồng thành lập công ty ở Việt Nam, đồng thời tìm ra những khiếm khuyết
và những nguyên nhân chính của những khiếm khuyết đó để có thể đa ra các
định hớng và kiến nghị cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về loại hợp
đồng này.
Chơng 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về hợp đồng thành lập
công ty. Trong chơng này, luận án xác định cụ thể các định hớng và kiến nghị
không chỉ trong lĩnh vực lập pháp, mà còn trong cả lĩnh vực t pháp, cũng nh
nghiên cứu khoa học pháp lý.
7
Chơng 1 : lý luận cơ bản về hợp đồng thành lập công ty
1.1. khái luận về hợp đồng thành lập công ty
1.1.1. Khái niệm hợp đồng thành lập công ty
Ngày nay, khó có ai có thể tợng tợng đợc rằng, trong hoạt động kinh tế
nói riêng và trong đời sống xã hội nói chung lại có thể thiếu bóng dáng của
những công ty. Tuy là một trong những vấn đề lớn của xã hội hiện đại, nhng
công ty, hay nói đúng hơn, một loại hình lâu đời nhất của nó, đã đợc ngời ta
tìm thấy dấu vết về sự tồn tại vào khoảng hàng nghìn năm trớc Công nguyên
qua Bộ luật Hammurabi [99, tr. 457]. Đó là loại hình công ty hợp danh. Điều đó
minh chứng rằng sự tồn tại và phát triển của công ty là một tất yếu.
Nhu cầu sống của con ngời buộc họ tham gia các hoạt động kinh tế.
Từ đó dần dần có sự phân hóa thành một tầng lớp sống bằng nghề buôn bán,
thơng mại mà thờng đợc gọi là thơng gia. Nhng những hoạt động kinh tế đó
chứa đựng nhiều rủi ro, dẫn đến sự cần thiết liên kết, hợp tác với nhau. Từ
những liên kết nh vậy đã hình thành các công ty đối nhân (khi đợc thiết lập
giữa các thơng gia) hoặc hình thành các công ty đối vốn (khi đợc thiết lập giữa
các nhà đầu t mong muốn hạn chế rủi ro cho mình bằng chế độ trách nhiệm
hữu hạn). Điều đó có nghĩa là các hội có mục đích kinh tế xuất hiện. Để tồn
tại lâu dài, bền vững và tránh những hiểm họa cho xã hội, các thực thể nh vậy
(còn đợc gọi là công ty hay thơng hội) cần có một cơ sở pháp lý là hợp đồng
thành lập công ty hay khế ớc lập hội với tính cách là một chế định pháp luật
nhằm điều tiết những quyền lợi riêng của từng thành viên trong công ty,
những quyền lợi chung giữa họ, những quyền lợi của thơng hội do họ lập ra và
các lợi ích liên quan của cộng đồng.
Bởi thế, nghiên cứu hợp đồng thành lập công ty có một ý nghĩa quan
trọng không chỉ nhằm phát triển khoa học pháp lý, xây dựng pháp luật, mà
8
còn nhằm giải quyết các vấn đề thực tiễn của việc thành lập các công ty, thực
tiễn giải quyết các tranh chấp trong và xung quanh công ty khi xã hội đang
đòi hỏi sự "tôn vinh" chúng.
Cho tới nay ngời ta cha tìm đợc những sự kiện hay tài liệu lịch sử làm
rõ con đờng hình thành công ty hay sự liên kết giữa những nhà đầu t nhằm
mục đích kinh tế. Ngời ta chỉ có thể lý giải bằng sự phỏng đoán hay sự suy
diễn con đờng dẫn tới sự liên kết kinh tế theo kiểu công ty.
Những ngời tham gia thơng trờng đầu tiên có lẽ là những cá nhân
mong muốn tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa.
Cũng nh những chủ thể khác của luật dân sự, những cá nhân này phải chịu
trách nhiệm vô hạn, hay nói cách khác, bằng toàn bộ tài sản của mình đối với
các khoản nợ, có nghĩa là họ phải chịu trách nhiệm đến cùng với những hành vi
thơng mại của mình. Đây là một tính chất điển hình của thơng gia. Sau này
ngời ta đã tìm kiếm các giải pháp khắc phục bằng các loại hình công ty có chế độ
trách nhiệm hữu hạn. Khi các cá nhân kinh doanh, thờng đợc gọi là thơng nhân
đơn lẻ hay doanh nghiệp cá thể (sole trader hay sole proprietorship), thì họ có
những điểm lợi nh: Đợc hởng toàn bộ lợi nhuận; tự định hớng và mục tiêu
kinh doanh; không chậm trễ trong việc ra quyết định; đáp ứng khách hàng
nhanh chóng; quan hệ gần gũi với khách hàng; bảo đảm bí mật kinh doanh; có
động cơ thúc đẩy làm việc chăm chỉ; giám sát chặt chẽ hoạt động sản xuất,
kinh doanh. Tuy nhiên, họ phải gánh chịu nhiều điểm bất lợi nh: Phải làm việc
vất vả; chịu trách nhiệm cá nhân và vô hạn đối với các khoản nợ; bị hạn chế về
vốn; khó mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, và đổi mới công nghệ; giá
thành sản phẩm cao, khó khăn trong việc cạnh tranh; khi chết, không có gì
bảo đảm ngời thừa kế của họ thích duy trì hoặc có khả năng duy trì doanh
nghiệp. Vì thế, nhiều thơng nhân đơn lẻ mong muốn tìm kiếm bạn hữu
(partner) để cùng nhau tiến hành các hoạt động kinh doanh dới dạng công ty
hợp danh hay hội hợp danh (partnership) [97, tr. 43] - hình thức công ty ra đời
9
đầu tiên trên thế giới. Rồi từ hình thức công ty này, nhiều hình thức công ty
khác ra đời để đáp ứng nhu cầu liên kết với nhau của những nhà đầu t mong
muốn tìm kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, các
hình thức công ty ra đời trong các giai đoạn khác nhau của lịch sử phản ánh
phần nào sự phát triển và các đòi hỏi của kinh tế - xã hội ở giai đoạn đó.
Ngày nay, khi nghiên cứu về sự xuất hiện các công ty, ngời ta cho
rằng, sự liên kết tạo nên chúng bao gồm ba bớc: Thứ nhất, phát hiện ra cơ hội
kinh doanh; thứ hai, điều tra nhằm xác định tính khả thi của hoạt động kinh
doanh dự kiến; và thứ ba, hội họp cùng nhau góp sức ngời, sức của để tổ chức
hoạt động kinh doanh [95, tr. 237]. Những quan hệ này thờng đợc thể hiện dới
dạng hợp đồng [101, tr. 4]. H. G. Henn và J. R. Alexander (các luật gia Hoa
Kỳ) phân tích có bốn dạng hợp đồng nh vậy đợc gọi là các thỏa thuận tiền
công ty (preincorporation agreements): Thứ nhất, thỏa thuận giữa các sáng
lập viên nhằm tạo thành công ty (agreements between promoters for the
formation of the corporation); thứ hai, các thỏa thuận cổ đông (shareholder
agreement); thứ ba, thỏa thuận lập hội (agreement of association); thứ t, thỏa
thuận giữa các sáng lập viên và ngời thứ ba (agreement between promoters
and third persons) [95, tr. 246].
Vấn đề cần phải nhấn mạnh ở đây là những thơng nhân hoặc những
nhà đầu t, khi liên kết lại với nhau trong một hình thức công ty nhất định, đã
cùng nhau thỏa thuận với mục đích xác lập quyền lợi của mỗi bên trong sự
liên kết đó, đồng thời xác định mục tiêu, thời hạn và các nguyên tắc hoạt động
cho công ty của họ mà đợc gọi là hợp đồng thành lập công ty hay khế ớc lập
hội. Bởi vậy, Bộ luật Dân sự và Thơng mại Thái Lan định nghĩa: "Hợp đồng
thành lập một hợp danh hay một công ty là hợp đồng theo đó hai hay nhiều
ngời thỏa thuận cùng nhau liên kết trong trong một cam kết chung với mục
tiêu chia sẻ các lợi ích thu đợc từ đó" (Điều 1012).
10
Các nớc thuộc Họ pháp luật La Mã - Đức thờng xem bản chất pháp lý
của công ty là hợp đồng với một vài ngoại lệ nh công ty trách nhiệm hữu hạn
một thành viên. Quan niệm này thờng đợc thể hiện trong các công trình pháp
điển hóa sẽ đợc nêu ra dới đây. Trong khi đó các nớc thuộc Họ pháp luật Anh
- Mỹ, đặc biệt là Hoa Kỳ, phát triển nhiều học thuyết khác nhau về công ty
(corporation). Trong các học thuyết đó có học thuyết xem công ty là hợp đồng
bên cạnh rất nhiều học thuyết khác. Tuy nhiên họ luôn luôn coi hợp danh
(partnership) là hợp đồng. Qua đây có thể nói, hợp đồng thành lập công ty là một
chế định tơng đối thống nhất trong các hệ thống pháp luật trên thế giới, và giữ
một vị trí quan trọng trong pháp luật về công ty ở các nớc. Học thuyết hợp đồng
về công ty ở Hoa Kỳ đợc phát triển để giải quyết các mối quan hệ giữa các thành
viên của công ty với nhau; mối quan hệ giữa các thành viên của công ty với
bản thân công ty; và mối quan hệ giữa công ty với nhà nớc [95, tr. 146].
Việc xem bản chất pháp lý của công ty là quan hệ hợp đồng bởi lý lẽ
sau: Trong công ty các thành viên có những nghĩa vụ xác định. Và bản thân
công ty cũng có những nghĩa vụ xác định. Theo lý thuyết chung về luật t, thì
nghĩa vụ có hai nguồn gốc phát sinh căn bản là hành vi pháp lý hay giao dịch
(transaction), và sự kiện (event). Bộ luật Dân sự 1995 và Luật Thơng mại 1997
của Việt Nam cũng thể hiện rất rõ hai nguồn gốc phát sinh nghĩa vụ căn bản
này. Khác với sự kiện, giao dịch là việc tạo lập ra một hậu quả pháp lý (quyền
và nghĩa vụ) bởi ý chí của đơng sự. Giao dịch đợc phân chia thành hai loại là
hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phơng. Nghĩa vụ của các thành viên công ty,
và nghĩa vụ của công ty trong mối quan hệ đối với các thành viên của mình tr-
ớc hết đợc tạo nên bởi ý chí chung của các thành viên. Công ty chỉ tồn tại đợc
khi các nghĩa vụ nh vậy đợc xác định. Vì vậy, ngời ta cho rằng, công ty có bản
chất pháp lý là hợp đồng. Tuy nhiên, ngày nay công ty, nhất là các công ty cổ
phần niêm yết, chịu sự can thiệp rất sâu của pháp luật. Nhng sự can thiệp đó
cũng chỉ là sự can thiệp vào quan hệ hợp đồng, chứ pháp luật không thể buộc
11
bất kỳ ai vào một nghĩa vụ cụ thể trong một công ty cụ thể ngoài ý chí của ng-
ời đó.
Khảo cứu Bộ luật Dân sự 1995 và Luật Doanh nghiệp 1999 của Việt
Nam, cha thấy một điều khoản nào nói về hợp đồng thành lập công ty với tính
cách là nơi ghi nhận sự thỏa thuận giữa những nhà đầu t nhằm tạo ra một thực
thể kinh doanh. Pháp luật của các nớc theo truyền thống Common Law nh:
Anh, úc hay pha trộn với Common Law nh: Singapore, Malaysia
có khái niệm về thỏa thuận lập hội (the memorandum of association) mà
đợc xem là một loại hợp đồng thành lập công ty. Nó là một phần quan trọng
của hồ sơ trình lên nhà chức trách ở những nớc này để đăng ký thành lập công
ty [100, tr. 107-110], [95, tr. 246-264], [85, tr. 34-39].
ở Việt Nam có một thuật ngữ thông dụng khác đợc sử dụng là "khế ớc
lập hội" xuất hiện trong các Bộ luật Dân sự của các chế độ cũ. Tuy nhiên, hợp
đồng thành lập công ty, trong một số Bộ luật Dân sự ở một số nớc, đợc chia
thành hợp đồng hợp danh và hợp đồng thành lập các thơng hội không phải là
hợp danh.
Một số văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam có đề cập tới hợp
đồng thành lập công ty dới tên gọi là "hợp đồng liên doanh" nh: Luật Đầu t n-
ớc ngoài tại Việt Nam và Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của
Chính phủ qui định chi tiết thi hành Luật này. Việc đề cập tới hợp đồng này là
một bớc đi đúng hớng, xác đáng về mặt khoa học. Song, Việt Nam hiện nay
cha có một cơ sở lý luận vững chắc về các vấn đề này, dù sao cũng là một khó
khăn lớn cho việc thiết lập những qui định nh vậy.
Những khảo cứu ở trên cho thấy thuật ngữ "hợp đồng thành lập công
ty" có thể hiểu theo ba nghĩa dễ gây ra sự nhầm lẫn. Nghĩa thứ nhất chỉ một
văn bản thỏa thuận giữa các thành viên tạo lập một công ty cụ thể của họ trong
sự phân biệt với các văn bản khác của công ty. Nghĩa thứ hai chỉ sự thỏa thuận
giữa các thành viên nhằm tạo lập ra một công ty. Nghĩa thứ ba chỉ một chế
12
định pháp luật thuộc luật nghĩa vụ nhằm điều chỉnh các quan hệ giữa các
thành viên công ty với nhau, giữa công ty với mỗi thành viên, và giữa công ty
với ngời thứ ba có liên quan.
Nếu hiểu hợp đồng thành lập công ty theo nghĩa thứ nhất, thì cần phải
phân biệt giữa hợp đồng thành lập công ty với điều lệ công ty và các loại hồ sơ
văn bản khác thuộc công ty. Điểm cốt yếu của sự phân biệt này có thể đợc
diễn giải nh sau: Hợp đồng thành lập công ty và điều lệ của công ty tạo thành
hiến pháp của công ty mà trong đó hợp đồng thành lập công ty thiết lập nên
những điều kiện chủ yếu để đảm bảo cho sự tồn tại của công ty và quy định
những cơ sở thiết yếu cho các hoạt động của công ty; còn điều lệ công ty th-
ờng điều tiết những công việc quản trị thờng nhật của công ty [86, tr. 37].
Nếu hiểu hợp đồng thành lập công ty theo nghĩa thứ hai, thì cần nhìn
nhận bản chất pháp lý của công ty, suy cho cùng, là một quan hệ hợp đồng, và
sự thỏa thuận tạo lập nên công ty đợc thể hiện dới nhiều hình thức chứng cứ
khác nhau (hay nhiều văn bản khác nhau của công ty) mà trong đó văn bản
hợp đồng thành lập công ty chỉ là một hình thức chứng cứ ghi nhận sự thỏa
thuận của các thành viên về những nguyên tắc căn bản nhất chi phối đời sống
pháp lý của công ty và đợc cụ thể hóa bằng điều lệ công ty, cũng nh các văn
bản khác của công ty. Truyền thống Common Law và truyền thống Civil Law
có nhận thức giống nhau về vấn đề này, trừ Hoa Kỳ có đôi chút khác biệt.
Trong vụ kiện Rayfield v. Hands (1958), vụ Borland s Trustee v. Steel Bros &
Co Ltd (1900) và vụ Re Carrati Holding Co Pty Ltd (1978), tòa án Anh quốc
đã xem thỏa thuận thành lập công ty (memorandum of association) và điều lệ
công ty (articles of association) về bản chất tạo thành một hợp đồng giữa các
thành viên của công ty [85, tr. 32-33]. Giới thiệu về đạo luật công ty của úc,
Christopher Bevan khẳng định:
13
Thỏa thuận thành lập công ty và điều lệ công ty tạo thành
một hợp đồng giữa công ty và mỗi thành viên, và giữa mỗi thành
viên với mỗi thành viên khác, và giữa mỗi thành viên với mỗi nhân
viên hữu trách (là giám đốc, th ký và nhân viên điều hành), phụ thuộc
vào các qui định tại Điều 180(1) của đạo luật. Bởi vậy, nếu thỏa
thuận và điều lệ bị thay đổi bằng một nghị quyết đặc biệt, thì mỗi
thành viên bị ràng buộc bởi các qui định của thỏa thuận và điều lệ
đã sửa đổi đó [85, tr. 32].
Theo pháp luật Hoa Kỳ, thỏa thuận tiền công ty (preincorporation
agreement) là một hợp đồng giữa các cổ đông dự kiến (proposed shareholders)
nhằm tạo lập một hoạt động kinh doanh dới hình thức một công ty cụ thể.
Nó có thể là một biên bản tóm tắt những điểm chính của sự thỏa thuận miệng
hay một văn bản chính thức hoàn chỉnh mô tả chi tiết sự thỏa thuận về mọi
vấn đề giữa các cổ đông, thuê mớn nhân viên, vốn hoặc bất kỳ vấn đề nào
khác mà là đối tợng của thỏa thuận sơ bộ. Các văn bản nh điều lệ dự kiến của
công ty (proposed articles of incorporation), văn bản nội bộ (bylaw) hoặc
thậm chí các biên bản cuộc họp có thể đợc gắn kèm làm bằng chứng cho sự
thỏa thuận thành lập công ty. Sau khi công ty đợc thành lập xong, nếu muốn
thỏa thuận tiền công ty tiếp tục có hiệu lực phải thông qua một thủ tục tuyên bố
đặc biệt [94, tr. 79-80]. Mặc dù vậy, Robert W. Emerson và John W. Hardwicke
nói rằng: "Theo common law, điều lệ công ty đợc xem là hợp đồng giữa nhà n-
ớc với công ty trên một phơng diện nào đó, và giữa công ty với cổ đông trên
một phơng diện khác. Sự thay đổi hợp đồng này cần có sự nhất trí của các cổ
đông" [93, tr. 320]. Ngoài ra văn bản nội bộ của công ty (bylaw) thờng đợc xem
là hợp đồng giữa công ty với các thành viên của nó, và giữa các thành viên của
công ty với nhau [94, tr. 48]. Tuy nhiên, các vấn đề đặc biệt về hợp đồng tiền
công ty trong pháp luật Hoa Kỳ chỉ áp dụng cho các công ty (corporation) chứ
không áp dụng cho hợp danh (partnership), nên không thể trở thành cách tiếp
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét