Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên liệu clinker của công ty vinacimex


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên liệu clinker của công ty vinacimex": http://123doc.vn/document/1053758-giai-phap-hoan-thien-hoat-dong-nhap-khau-nguyen-lieu-clinker-cua-cong-ty-vinacimex.htm


Công ty VINACIMEX là công ty trực thuộc Tổng công ty xi măng
Việt Nam (VNCC) giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động nhập khẩu xi măng,
và nguyên liệu để sản xuất nó. Hoạt động nhập khẩu các nguyên liệu để
cung cấp cho các nhà sản xuất trong nớc đã đáp ứng đợc nhu cầu sản xuất
của các đơn vị sản xuất xi măng. Sau hơn 10 năm hoạt động, công ty đã đạt
đợc kết quả kinh doanh tốt, xây dựng đợc uy tín của mình trên thơng trờng
trong nớc cũng nh quốc tế, tạo đợc nhiều mối quan hệ bạn hàng kinh doanh.
Để nâng cao hơn nữa vai trò hoạt động kinh doanh nhập khẩu của công ty
VINACIMEX, trớc hết cần phải đảm bảo các biện pháp để thúc đẩy hoạt
động kinh doanh nhập khẩu các nguyên liệu của công ty.
Với nhận thức đó, sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu hoạt động
kinh doanh của công ty VINACIMEX, tôi đã chọn đề tài:
Giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên liệu Clinker của
công ty VINACIMEX
Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận cơ bản về hoạt động nhập khẩu
trong nền kinh tế thị trờng.
- Đánh giá thực trạng hoạt động nhập khẩu của công ty VINACIMEX,
trên cơ sở đó phân tích đợc những thành tựu, thuận lợi cũng nh những khó
khăn, hạn chế còn mắc phải.
- Đề ra một số biện pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động nhập
khẩu nguyên liệu Clinker của công ty VINACIMEX.
Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
- Đối tợng nghiên cứu của đề tài: là những vấn đề cơ bản về hoật
động nhập khẩu và các giải pháp hoàn thiện hoạt động nhập khẩu của công
ty VINACIMEX.
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung vào nghiên cứu thự tiễn hoạt
động nhập khẩu nguyên liệu clinker, và các biên pháp nhằm hoàn thiện hoạt
động nhập khẩu mặt hàng này của công ty VINACIMEX.
Phơng pháp nghiên cứu:
5
Chuyên đề sử dụng các phơng pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch
sử, phơng pháp thống kê, phơng pháp so sánh, tổng hợp, khái quát hoá.
Kết cấu của chuyên đề:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, chuyên
đề gồm có ba phần:
Phần 1: Một số vấn đề về hoạt động nhập khẩu và khái quát về công
ty VINACIMEX
Phần 2: Thực trạng hoạt động nhập khẩu nguyên liệu Clinker của
công ty VINACIMEX.
Phần 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động nhập khẩu nguyên liệu
Clinker của công ty VINACIMEX.
Trong thời gian làm chuyên đề, đợc sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình của cô
giáo hớng dẫn thực tập Th.s Nguyễn Liên Hơng và các cô chú trong công ty
VINACIMEX đã giúp em hoàn thành đề tài này. Song do thời gian nghiên
cứu và kiến thức còn hạn chế, thiếu kinh nghiệm thực tế nên bài viết này sẽ
có nhiều thiếu xót. Kính mong nhận đợc sự góp ý và chỉ bảo của các thầy cô
để bài viết trở lên hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn.
6
Phần I
Một số vấn đề về hoạt động nhập khẩu và khái quát
về công ty VINACIMEX.
I. Lí luận chung về hoạt động nhập khẩu.
1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động nhập khẩu.
1.1. Khái niệm.
Nhập khẩu hàng hoá là một nghiệp vụ quan trọng trong hoạt động
kinh doanh thơng mại quốc tế. Có thể hiểu nhập khẩu là sự mua hàng hoá và
dịch vụ từ nớc ngoài về phục vụ cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nớc
hoặc tái sản xuất với mục đích nhằm thu lợi nhuận và nối liền sản xuất với
tiêu dùng giữa các quốc gia.
Kinh doanh nhập khẩu là sự trao đổi hàng hoá dịch vụ giữa các chủ
thể thuộc các quốc gia khác nhau thông qua hành vi mua nhằm đáp ứng nhu
cầu trong nớc hoặc tái sản xuất nhằm thu lợi nhuận. Nhập khẩu thể hiện sự
phụ thuộc, quan hệ với nhau giữa nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế
giới, nó quyết định đến sự phát triển kinh tế của các quốc gia.
1.2. Đặc điểm.
Nhập khẩu là hoạt động buôn bán phức tạp hơn nhiều với hoạt động
buôn bán trong nớc, các chủ thể tham gia vào hoạt động này là các tổ chức
kinh tế, các công ty giữa các quốc gia trên thế giới. Đối với hoạt động nhập
khẩu, việc mua bán qua các trung gan chiếm tỉ trọng lớn, đồng tiền thanh
toán phải là các ngoại tệ mạnh, hàng hoá phải đợc vận chuyển qua biên giới,
cửa khẩu của các quốc gia.
Hoạt động nhập khẩu có liên quan trực tiếp đến các quan hệ về chính
trị và kinh tế giữa các nớc nhập khẩu và các nớc xuất khẩu, ví dụ một nớc bị
cấm vận sẽ rất khó khăn trong việc nhập khẩu. Nhập khẩu là cơ hội tốt để
các doanh nghiệp có quốc tịch khác nhau làm ăn với nhau và qua đó góp
phần phát triển các mối quan hệ giữa các nớc.
7
Hoạt động nhập khẩu phải tuân theo luật pháp quốc tế, tuân theo
những tập quán, thông lệ quốc tế và chịu sự quy định chung của luật pháp,
tập quán của riêng từng quốc gia tham gia vào hoạt động nhập khẩu. Nhà n-
ớc phải quản lí hoạt động nhập khẩu thông qua các công cụ nh thuế, hạn
ngạch và bằng các văn bản pháp luật, quy định danh mục hàng hoá đ ợc
phép nhập khẩu và không đựoc phép nhập khẩu.
2. Vai trò hoạt động nhập khẩu.
Với xu thế hội nhập kinh tế nh hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều
không ngừng mở rộng mối quan hệ, giao lu, buôn bán với nhau để có thể tạo
nhiều điều kiện phát triển đất nớc mình. Sự phụ thuộc về kinh tế giữa các
quốc gia ngày càng lớn mạnh, điều đó đợc thể hiện thông qua việc nhiều tổ
chức kinh tế, trung tâm thơng mại đợc hình thành nh khu vực mậu dịch tự do
ASEAN (AFTA), diễn đàn kinh tế Châu á Thái Bình Dơng (APEC), hiệp hội
các quốc gia Đông Nam á(ASIAN), liên minh châu âu (EU), đặc biệt là tổ
chức thơng mại quốc tế (wto)
Trong xu hớng đó, hoạt động nhập khẩu càng có ý nghĩa vô cùng to
lớn đối với các quốc gia. Vai trò của hoạt động nhập khẩu không chỉ có ý
nghĩa đối với sự phát triển của mỗi quốc gia mà còn góp phần vào sự phát
triển chung của nền kinh tế toàn cầu. Vai trò của hoạt động nhập khẩu thể
hiện nh sau:
Thứ nhất: do nguồn lực về nguyên nhiên liệu, khoa học kĩ thuật,
khoáng sản, của mỗi quốc gia là có hạn, các quốc gia không thể tự mình
có thể phát triển các ngành nghề trong nớc một cách đồng đều, toàn diện.
Hoạt động nhập khẩu có thể giúp các quốc gia giải quyết đợc các vấn đề đó,
đó là cơ sở để bổ sung hàng hoá trong nớc không sản xuất đợc hoặc có sản
xuất đợc nhng không đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc.
Thứ hai: Nhập khẩu làm đa dạng hoá hàng hoá trong mỗi nớc, nâng
cao chất lợng của các loại hàng hoá, tạo sự cạnh tranh tranh trong nền kinh
tế, buộc các doanh nghiệp, nhà sản xuất không ngừng đổi mới quy cách làm
8
việc, cải tiến kĩ thuật, đầu t công nghệ hiện đại nhằm làm tăng chất lợng
hàng hoá, uy tín của mình.
Thứ 3: Nhập khẩu xoá bỏ tình trạng độc quyền, phá vỡ triệt để nền
kinh tế đóng và chế độ tự cung tự cấp, thúc đẩy quá trình hội nhập vào nền
kinh tế khu vực và thế giới.
Thứ 4: Nhập khẩu tạo ra năng lực mới trong sản xuất, giải quyết công
ăn việc làm cho ngời lao động, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống
xã hội, hạn chế các tệ nạn xã hội, tạo thu nhập và ổn định phát triển kinh tế
xã hội.
Thứ 5: Nhập khẩu tạo ra sự liên kết giữa nền kinh tế trong nớc và nền
kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho phân công lao động quốc và hợp tác quốc
tế, khai thác đợc lợi thế so sánh trên cơ sở chuyên môn hoá sản xuất.
Thứ 6: Nhập khẩu tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động xuất khẩu. Hoạt
động nhập khẩu và xuất khẩu có quan hệ rất chặt chẽ với nhau, nếu nh xuất
khẩu đợc coi là động lực để phát triển kinh tế xã hội thì nhập khẩu chính là
công cụ để thực hiện vai trò đó. Nhập khẩu thúc đẩy sản xuất nhằm nâng cao
chất lợng hàng hoá, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu hàng
hoá.
3. Các hình thức nhập khẩu.
Hoạt động nhập khẩu khá đa dạng và phức tạp do việc buôn bán đợc
diễn ra với các chủ thể thuộc các quốc gia khác nhau. Trong thực tế hoạt
động ngoại thơng có nhiều hình thức nhập khẩu, nhng tuỳ vào cách thức hoạt
động của mỗi doanh nghiệp, tuỳ vào đặc trng của mỗi quốc gia các doanh
nghiệp nhập khẩu lựa chọn cho mình một cách thức nhập khẩu phù hợp nhất
trong điều kiện của mình. Hoạt động nhập khẩu có nhiều hình thức nhng tóm
lại nó gồm những hình thức sau đây:
3.1. Nhập khẩu uỷ thác.
Nhập khẩu uỷ thác là hoạt động nhập khẩu đợc hình thành giữa một
bên là doanh nghiệp trong nớc có vốn ngoại tệ riêng và có nhu cầu nhập
khẩu một số loại hàng hoá nhng không có quyền tham gia nhập khẩu trực
9
tiếp hay không có đủ kinh nghiệm nếu tự làm sẽ không có hiệu quả, doanh
nghiệp đó uỷ thác cho một doanh nghiệp khác có chức năng trực tiếp giao
dịch ngoại thơng tiến hành nhập khẩu theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ
thác phải tiến hành đàm phán và kí kết hợp đồng, làm thủ tục nhập khẩu
hàng hoá theo yêu cầu của bên uỷ thác và đợc hởng một khoản thù lao theo
thoả thuận gọi là phí uỷ thác.
3.2 Nhập khẩu tự doanh.
Hoạt động nhập khẩu tự doanh (hay còn gọi là hoạt động nhập
khẩu trực tiếp) là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp xuất
nhập khẩu trực tiếp trên cơ sở nghiên cứu thị trờng trong nớc và nớc ngoài,
tính toán đầy đủ các chi phí, chính sách luật pháp của quốc gia, luật pháp và
các thông lệ, tập quán trên thế giới.
3.3. Nhập khẩu liên doanh.
Nhập khẩu liên doanh là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ
sở liên kết kinh tế một cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp, trong đó có ít
nhất một doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp. Các doanh nghiệp phối hợp
cùng nhau để tiến hành giao dịch và đề ra các chủ trơng, biện pháp có liên
quan đến các hoạt động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động nhập khẩu phát triển
theo chiều hớng các bên cùng có lợi, cùng phân chia lỗ lãi phụ thuộc vào
trách nhiệm của mỗi bên.
3.4. Nhập khẩu hàng đổi hàng.
Nhập khẩu hàng đổi hàng cùng với trao đổi bù trừ là hai nghiệp vụ chủ
yếu của buôn bán đối lu, nó là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu,
thanh toán trong trờng hợp này không phải bằng tiền mà sử dụng bằng hàng
hoá. Mục đích nhập khẩu ở đây không phảI chỉ để thu lãi từ hoạt động nhập
khẩu mà còn nhằm xuất khẩu đợc hàng, thu cả lãi từ hoạt động xuất khẩu.
3.5. Nhập khẩu tái xuất.
Nhập khẩu tái xuất là hoạt động nhập khẩu hàng hoá vào trong
nớc nhng không phải để tiêu dùng trong nớc mà để xuất sang nớc một nớc
thứ ba nào đó. Những hàng nhập khẩu này không đợc qua chế biến ở nớc tái
10
xuất . Nh vậy, hoạt động nhập khẩu tái xuất đợc thực hiện thông qua ba nớc:
nớc xuất khẩu, nớc tái xuất và nớc nhập khẩu.
4.Nội dung hoạt động nhập khẩu.
4.1.Nghiên cứu thị trờng.
Vấn đề nghiên cứu thị trờng là một việc làm cần thiết đầu tiên
của đối với bất kì công ty nào muốn tham gia vào thị trờng thế giới. Quá
trình nghiên cứu thị trờng là quá trình thu thập thông tin, số liệu về thị trờng,
so sánh phân tích những số liệu đó và rút ra kết luận. Những kết luận này sẽ
giúp cho nhà quản lí đa ra quyết định đúng đắn để lập kế hoạch Marketing.
Công việc đầu tiên của ngời làm công tác thị trờng là thu thập những
thông tin có liên quan đến thị trờng và mặt hàng mình quan tâm. Trong quá
trình nghiên cứu thị trờng, các nhà nghiên cứu thị trờng cần phân tích các
yếu tố cung, cầu của mặt hàng kinh doanh và của các sản phẩm tơng tự,
nghiên cứu và dự đoán xu hớng biến động về giá cả, đồng thời phân tích
những điều kiện của thị trờng nh: điều kiện về quy chế và pháp lí, diều kiện
về tài chính, điều kiện về kĩ thuật, điều kiện về con ngời và tâm lí , lựa
chọn thị trờng kinh doanh.
Hoạt động nghiên cứu thị trừơng diễn ra đầu tiên trong các khâu của
hoạt động kinh doanh nhng vai trò của nó thì vô cùng quan trọng, ảnh hởng
tới tất cả các khâu còn lại sau này.
4.2.Tìm và lựa chọn đối tác nhập khẩu.
Sau khi nghiên cứu thị trờng, các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ phải tìm
đối tác nhập khẩu. Trong quá trình nghiên cứu thị trờng, doanh nghiệp đã lựa
chọn đợc mặt hàng và thị trờng kinh doanh, lúc này việc lựa chọn đối tác
nhập khẩu dựa vào những yếu tố đó, làm sao phải đảm bảo đạt đợc những
nguyên tắc trong nhập khẩu, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh
diễn ra đợc liên tục và có lãi.
Công việc lựa chọn đối tác nhập khẩu cần phải hiểu các vấn đề sau:
- Loại hình kinh doanh của đối tác.
11
- Phạm vi, lĩnh vực kinh doanh của họ.
- Vốn, cơ sở vật chất kĩ thuật của đối tác
- Tình hình hoạt động hiện nay và xu hớng hoạt động trong t-
ơng lai của đối tác
- Tình hình kinh doanh của các chi nhánh của bên đối tác (nếu có) .
Trên thị trờng hiện nay, có rất nhiều nhà cung ứng có thể đáp ứng đợc
nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, chính vì vậy các doanh nghiệp cần
cân nhắc kĩ mọi yếu tố nhằm tối thiểu hoá đợc chi phí, mà vẫn tuân theo các
nguyên tắc trong nhập khẩu, đảm bảo hoạt động kinh doanh ngày càng mở
rộng và phát triển.
4.3 Lựa chọn phơng thức giao dịch.
Đối với hoạt động nhập khẩu đang ồn tại nhiều phơng thức giao dịch,
mỗi phơng thức giao dịch có đặc điểm giao dịch và kĩ thuật tiến hành riêng.
Căn cứ vào mặt hàng xác định nhập khẩu, đối tợng, thời gian giao dịch và
năng lực của ngời tiến hành giao dịch mà doanh nghiệp lựa chọn phơng thức
giao dịch phù hợp. Dới đây là một số phơng thức giao dịch cơ bản nhất.
4.3.1 Giao dịch trực tiếp.
Giao dịch trực tiếp trong kinh doanh thơng mại quốc tế là giao
dịch mà ngời mua (hoặc bán) thoả thụa, bàn bạc, thoả luận trực tiếp (hoặc
thông qua th từ, điện tín ) với ng ời bán (hoặc mua) về hàng hoá, giá cả,
điều kiện giao dịch, phơng thức thanh toán
Phơng thức giao dịch trực tiếp ngày càng phát triển do trình độ
năng lực giao dịch ngoại thơng của ngời kinh doanh càng ngày càng tăng,
các thông tiện thông tin đại chúng rất phát triển nên ngời ta có thể giao dịch
trực tiếp với nhau đợc dễ dàng, đồng thời do nhu cầu càng cao của ngời tiêu
dùng nên hoạt động bán hàng thờng gắn liền với các hoạt động dịch vụ kèm
theo.
Việc giao dịch theo phong thức này đợc thực hiện tuần tự theo
các bớc từ hỏi giá, báo giá, chào hàng và chấp nhận.
4.3.2 Giao dịch qua trung gian.
12
Giao dịch qua trung gian trong kinh doanh thơng mại quốc tế là giao
dịch mà ngời mua (hoặc ngời bán) quy định điều kiện trong giao dịch mua
bán về hàng hoá giá cả, điều kiện giao dịch, phơng thức thanh toán phải
qua một ngời thứ ba-ngời trung gian buôn bán.
Hiện nay, phơng thức giao dịch qua trung gian chiếm khoảng
50% kim ngạch buôn bán trên thế giới. Ngời trung gian ở đây có thể là một
số cá nhân, hoặc là một tổ chức hay một doanh nghiệp.Ngời trung gian phổ
biến trên thị trờng là đại lí và môi giới.
4.3.3 Buôn bán đối lu.
Buôn bán đối lu trong thơng mại quốc tế là một phơng thức giao dịch
trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, ngời bán đồng thời là ng-
ời mua, lợng hàng hoá dịch vụ trao đổi với nhau có gía trị tơng đơng.
Buôn bán đối lu có yêu cầu về sự cân bằng: về mặt hàng, về giá cả, về
điều kiện giao hàng và cân bằng về tổng giá trị hàng hoá trao đổi. hoá.
4.3.4 Đấu giá quốc tế.
Đấu giá quốc tế trong thơng mại quốc tế là một phơng thức bán
hàng đặc biệt đợc tổ chức công khai ở một nơi nhất định, tại đó sau khi xem
xétt trớc hàng hoá, những ngời mua tự do cạnh tranh giá cả và cuối cùng,
hàng hoá sẽ đợc bán cho ngời nào trả gía cao nhất.
Thông thờng mặt hàng đợc đấu giá quốc tế là mặt hàng có tiêu
chuẩn hàng hoá.
4.3.5 Đấu thầu quốc tế.
Đấu thầu quốc tế trong thơng mại quốc tế là một phơng thức giao dịch
đặc biệt, trong đó ngời mua (tức là gọi thầu) công bố trớc điều kiện mua
hàng để ngời bán (tức là dự thầu) báo giá của mình muốn bán. Sau đó ngời
mua sẽ chọn mua của ngời bán nào đáp ứng đợc yêu cầu của ngời mua.
Đấu thầu đựoc áp dụng nhiều đối với các dự án đầu t.
4.3.6 Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá.
Sở giao dịch hàng hoá là một thị trờng đặc biệt, tại đó thông qua
những ngời môi giới do sở giao dịch chỉ định, ngời ta mua bán các loại hàng
13
hoá có khối lợng lớn , có tính chất đồng loạt và phẩm chất có thể thay thế
nhau đợc.
4.3.7 Giao dịch tại hội chợ triển lãm.
Hội chợ là thị trờng hoạt động định kì, tổ chức vào một thời gian và
địa điểm cố định trong một thời hạn nhất định. Tại đó ngời bán trng bày
hàng hoá của mình và tiếp xúc với ngời mua để kí kết hợp đồng buôn bán.
Triển lãm là nơi trng bày, giới thiệu những thành tựu của một nền kinh
tế hoặc của một ngành kinh tế, văn hóa, khoa học kĩ thuật
4.4.Đàm phán, kí kết hợp đồng.
Thực chất của quá trình thơng lợng đàm phán là sự thoả thuận, thống
nhất giữa các bên tham gia dựa theo nguyên tắc các bên cùng có lợi.
Các yêu cầu đối với đàm phán:
- Lấy lợi ích của tất cả các bên tham gia đàm phán làm nền tảng cho
sự thơng lợng, thoả thuận.
- Trong quá trình đàm phán phải có thái độ tôn trọng ý kiến của
nhau.
- Phải lu ý đến đặc điểm tâm lí truyền thống, văn hoá, giáo dục của
các bên để có các cách ứng xử hợp lí.
- Phải có quan điểm rõ ràng khi nảy sinh bất đồng trong quá trình th-
ơng lợng, đàm phán để cùng nhau giải quyết.
Sau khi các bên đã đàm phán xong với nhau thì đi đến kí kết hợp
đồng. Trong hợp đồng nhập khẩu, các bên phải quy định rõ các điều khoản
sau:
- Điều khoản về tên hàng.
- Quy cách phẩm chất hàng hoá.
- Bao bì, đóng gói và kí mã hiệu.
- Thời gian, địa điểm và phơng tiện giao hàng.
- Giám định hàng hoá.
- Điều kiện xếp hàng và thởng phạt.
- Điều kiên vận chuyển, bảo hiểm.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét