Thứ Năm, 17 tháng 4, 2014

Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Xây lắp và Vật tư xây dựng


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Hoàn thiện hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty Xây lắp và Vật tư xây dựng": http://123doc.vn/document/554449-hoan-thien-hach-toan-chi-phi-san-xuat-va-tinh-gia-thanh-san-pham-xay-lap-tai-cong-ty-xay-lap-va-vat-tu-xay-dung.htm


Tuy vậy, trong điều kiện hiện nay, để đa dạng hoá hoạt động sản xuất kinh doanh,
đợc sự cho phép của Nhà nớc một số doanh nghiệp kinh doanh xây lắp đã linh hoạt, chủ
động xây dựng một số công trình (chủ yếu là công trình nh nhà ở, văn phòng, cửa hàng )
sau đó bán lại cho các đối tợng có nhu cầu sử dụng với giá bán hợp lý thì giá thành sản
phẩm xây lắp cũng là một nhân tố quan trọng để xác định giá bán.
Trớc đây ngời ta quan niệm rằng giá thành sản phẩm là toàn bộ giá trị chi phí sản
xuất tính theo số lợng và loại sản phẩm đã hoàn thành. Nh vậy, giá thành sẽ không phản
ánh đúng đắn bản chất của nó và ít nhiều mang tính chất chủ quan bởi vì:
- Tính vào giá thành một số khoản mục chi phí mà thực chất là thu nhập thuần tuý
của xã hội nh: BHXH, các khoản trích nộp cho cơ quan cấp trên, thuế vốn, thuế tài
nguyên
- Một số khoản mục chi phí gián tiếp đợc phân bổ vào giá thành của từng loại sản
phẩm hay từng sản phẩm theo các tiêu thức phù hợp. Việc phân bổ này mang tính chủ
quan.
b - Phân biệt khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp là hai mặt biểu hiện của quá trình
sản xuất chế tạo sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ với nhau nhng chúng lại khác nhau về
phạm vi, giới hạn và nội dung.
Chi phí sản xuất chỉ tính những chi phí sản xuất phát sinh trong một thời kỳ nhất
định (tháng, quí, năm) còn giá thành lại liên quan đến chi phí của khối lợng xây lắp dở
dang kỳ trớc chuyển sang nhng lại không bao gồm chi phí thực tế của khối lợng xây lắp dở
dang cuối kỳ.
- Chi phí sản xuất đợc tập hợp theo từng thời kỳ nhất định, còn giá thành sản phẩm
xây lắp là chi phí sản xuất đợc tính cho một công trình, hạng mục công trình hay khối lợng
xây lắp hoàn thành.
Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp lại có những điểm
giống nhau: chúng đều là chi phí phản ánh lao động sống và lao động vật hoá mà doanh
nghiệp chi ra trong quá trình sản xuất. Giá thành sản phẩm xây lắp và chi phí sản xuất của
công tác xây lắp chỉ thống nhất về mặt lợng trong trờng hợp: khi đối tợng tập hợp chi phí
sản xuất và đối tợng tính giá thành là một công trình, hạng mục công trình đợc hoàn thành
trong kỳ tính giá thành hoặc khối lợng xây lắp dở dang đầu kỳ và cuối kỳ bằng nhau.
c - Bản chất, chức năng của giá thành sản phẩm xây lắp.
Chi phí sản xuất, chế tạo sản phẩm xây lắp luôn đợc thể hiện ở mặt định tính và
định lợng.
Mặt định tính của chi phí đó là các yếu tố chi phí hiện vật hay bằng tiền tiêu hao
trong quá trình sản xuất xây dựng công trình, hạng mục công trình.
Mặt định lợng của chi phí thể hiện mức độ tiêu hao cụ thể của từng loại chi phí
tham gia vào quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm xây lắp để cấu thành nên thực thể công
trình hoàn thành, biểu hiện bằng thớc đo tổng quát là thớc đo giá trị.
Mục đích sản xuất kinh doanh hay nói cách khác mục đích bỏ chi phí của Doanh
nghiệp là tạo nên những giá trị sử dụng nhất định để đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của xã hội.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng, các Doanh nghiệp nói chung và các Doanh nghiệp
xây lắp nói riêng luôn quan tâm tới hiệu quả chi phí bỏ ra, để với chi phí bỏ ra ít nhất nh ng
thu đợc lợi nhuận tối đa. Trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý,
giá thành sản phẩm là chỉ tiêu thoả mãn đáp ứng đợc nội dung thông tin trên.
Giá thành sản phẩm luôn luôn chứa hai mặt khác nhau vốn có bên trong của nó là
chi phí sản xuất đã chi ra và lợng giá trị sử dụng thu hồi đợc cấu thành trong khối lợng sản
phẩm xây dựng cơ bản hoàn thành. Nh vậy, bản chất của giá thành sản phẩm là kết quả sự
chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào sản phẩm xây lắp, công việc lao vụ hoàn
thành.
Giá thành sản phẩm có hai chức năng chủ yếu là: Chức năng thớc đo bù đắp chi phí
và chức năng lập giá.
Toàn bộ chi phí mà doanh nghiệp chi ra để hoàn thành một khối lợng công tác xây
lắp, một công trình, hạng mục công trình phải đợc bù đắp bằng chính số tiền thu về do
- 5 -
quyết toán công trình, hạng mục công trình và khối lợng công tác xây lắp đó. Việc bù đắp
chi phí đầu vào đó chỉ có thể đảm bảo đợc quá trình tái sản xuất giản đơn. Mục đích sản
xuất và nguyên tắc kinh doanh trong cơ chế thị trờng đòi hỏi các nhà doanh nghiệp phải
trang trải, bù đắp đợc chi phí đầu vào đồng thời có lợi nhuận. Trong điều kiện hiện nay, giá
bán sản phẩm xây lắp là giá nhận thầu. Do đó giá nhận thầu xây lắp biểu hiện giá trị công
trình, hạng mục công trình phải đợc dựa trên cơ sở giá thành dự toán. Thông qua giá bán
sản phẩm xây lắp mà đánh giá mức độ bù đắp chi phí và hiệu quả của chi phí.
d - Các loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp kinh doanh xây lắp.
Để đáp ứng yêu cầu của quản lý trong quá trình sản xuất cũng nh tiêu thụ sản phẩm,
xác định giá thành của sản phẩm là việc làm cần thiết và cũng có ý nghĩa thực tiễn cao. Tuy
nhiên yêu cầu của quản lý tại những thời điểm và phạm vi khác nhau sẽ khác nhau. Do vậy,
việc phân loại giá thành sẽ là cơ sở để các nhà quản trị doanh nghiệp xác định giá thành sản
phẩm.
Giá thành dự toán
Sản phẩm của ngành xây dựng có đặc điểm là có giá trị lớn, thời gian thi công dài
và mang tính chất đơn chiếc, kết cấu phức tạp, quy mô lớn. Do đó, mỗi giai đoạn thiết kế
có một dự toán tơng ứng với mức độ chính xác và cụ thể khác nhau phù hợp với nội dung
của mỗi giai đoạn thiết kế. Căn cứ vào giá trị dự toán của từng công trình, hạng mục công
trình, chúng ta có thể xác định đợc giá thành dự toán.
Giá thành dự toán là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành một khối lợng sản phẩm
xây lắp nhất định. Giá dự toán đợc xác định trên cơ sở các định mức chi phí theo thiết kế đ-
ợc duyệt và khung giá quy định áp dụng trong lĩnh vực XDCB do các cấp có thẩm quyền
ban hành.
Kể từ năm 1999 theo chế độ mới do có sự thay đổi của thuế GTGT nên giá thành dự
toán đợc tính theo công thức: Z dự toán = T + C + TL
Trong đó: - T: Chi phí trực tiếp (vật liệu, nhân công, máy)
- C: chi phí chung
- TL: Thu nhập chịu thuế tính trớc
Mặt khác, đơn giá về vật liệu, nhân công, máy của các cơ quan có thẩm quyền ban
hành và dựa trên mặt bằng giá cả thị trờng. Chính vì vậy Z dự toán không theo sát đợc sự
biến động thực tế, không phản ánh đợc thực chất giá trị công trình. Do vậy Doanh nghiệp
phải lập giá thành kế hoạch để dự kiến chỉ tiêu hạ giá thành.
Giá thành kế hoạch:
Là giá thành đợc xây dựng từ những điều kiện cụ thể của Doanh nghiệp trên cơ sở
phấn đấu hạ giá thành dự toán bằng các biện pháp quản lý kỹ thuật và tổ chức thi công, các
định mức và đơn giá áp dụng trong Doanh nghiệp xây lắp.
Z
kế hoạch
= Z
dự toán
- Mức hạ Z
dự toán
Giá thành thực tế:
Phản ánh toàn bộ các chi phí thực tế để hoàn thành, bàn giao khối lợng công tác xây
lắp mà Doanh nghiệp đã nhận thầu. Giá thành này bao gồm các khoản chi phí theo định
mức, vợt định mức và các khoản chi phí phát sinh không có định mức (nh chi phí phát sinh
do thiệt hại về sản phẩm hỏng, thiệt hại về ngừng sản xuất ). Nó đợc xác định theo số liệu
kế toán cung cấp.
Giá thành thực tế là các khoản chi phí thực tế theo khoản mục quy định thống nhất
cho phép tính vào giá thành. Nó đợc xác định vào cuối kỳ kinh doanh. Việc so sánh giá
thực tế với giá dự toán cho phép đánh giá trình độ quản lý và sử dụng chi phí của Doanh
nghiệp xây lắp này so với Doanh nghiệp xây lắp khác. Nếu so sánh giá thực tế với giá kế
hoạch, ta có thể đánh giá hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp
xây lắp trong điều kiện cụ thể về cơ sở vật chất và trình độ quản lý. Từ đó đa ra những ý
kiến đóng góp cho các nhà quản trị Doanh nghiệp trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh.
- 6 -
Hiện nay trong lĩnh vực kinh doanh xây lắp giá thành thực tế đợc báo cáo theo hai
chỉ tiêu:
- Giá thành thực tế khối lợng công tác xây lắp: là toàn bộ chi phí bỏ ra để tiến
hành sản xuất một khối lợng công tác xây lắp nhất định trong một thời kỳ nhất định, thờng
là một quý. Chỉ tiêu này đợc xác định vào thời kỳ đó và có tác dụng phản ảnh kịp thời mức
giá thành trong thi công để có biện pháp giảm chi phí, hạ giá thành.
- Giá thành thực tế công trình, hạng mục công trình hoàn thành: Bao gồm toàn
bộ chi phí thực tế bỏ ra để tiến hành thi công công trình, hạng mục công trình từ khi khởi
công đến khi hoàn thành, bàn giao cho đơn vị chủ đầu t.
Ngoài ra sản phẩm xây lắp còn có các loại giá thành sau:
+ Giá đấu thầu xây lắp: Là một loại giá thành dự toán mà chủ đầu t đa ra để các
đơn vị xây lắp làm căn cứ xác định giá đấu thầu của mình với nguyên tắc giá đấu thầu công
tác xây lắp nhỏ hơn hoặc bằng giá dự toán, đáp ứng mục đích tiết kiệm nguồn vốn đầu t.
+ Giá hợp đồng xây lắp: Là loại giá thành dự toán xây lắp ghi trong hợp đồng kinh
tế đợc ký kết giữa đơn vị xây lắp và chủ đầu t sau khi thoả thuận giao nhận thầu. Về
nguyên tắc giá hợp đồng xây lắp phải nhỏ hơn hoặc bằng giá đấu thầu công tác xây lắp.
Về việc áp dụng hai loại giá nêu trên là yếu tố quan trọng trong việc hoàn thiện cơ
chế quản lý kinh tế trong xây dựng. Nó thể hiện tính cạnh tranh lành mạnh giữa các đơn vị
xây lắp trong cơ chế thị trờng. Ngoài ra các đơn vị xây lắp còn có thể tạo thế chủ động
trong việc định giá sản phẩm cũng nh tổ chức sản xuất kinh doanh. Đó là yếu tố cơ bản để
phát triển hoạt động của các đơn vị này.
4. Mối quan hệ giữa chi phí và giá thành:
Hoạt động xây lắp là sự thống nhất hai mặt của một quá trình. Nh vậy có thể thấy
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ chặt chẽ và có sự độc lập tơng đối
với nhau. Chi phí thể hiện hao phí sản xuất còn giá thành thể hiện kết quả của qúa trình
sản xuất.
Về mặt chất: Chúng đều bao gồm các hao phí về lao động sống và lao động vật
hoá mà Doanh nghiệp phải bỏ ra trong qúa trình thi công xây lắp.
Về mặt lợng: Chi phí sản xuất phản ánh hao phí trong một thời kỳ nhất định, giá
thành sản phẩm chỉ phản ánh những hao phí liên quan tới khối lợng công việc hoàn thành,
đợc bàn giao, đợc nghiệm thu. Giá thành sản phẩm không bao gồm chi phí sản xuất dở
dang cuối kỳ, chi phí không liên quan đến hoạt động sản xuất, chi phí thực tế phát sinh chờ
phân bổ, nhng lại bao gồm chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ, chi phí thực tế cha phát sinh
nhng đợc tính trớc trong kỳ và chi phí phát sinh trong kỳ trớc nhng phân bổ cho kỳ này.
Trong kế toán tập hợp chi phí sản xuất tạo cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm.
Đây là hai bớc công việc liên tiếp gắn bó hữu cơ với nhau, nếu tạm tính giá thành xây lắp
theo điểm dừng kỹ thuật hợp lý đợc thể hiện qua sơ đồ sau:
AB: Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ
BD: Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
AC: Tổng giá thành sản phẩm
CD: Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ
Tổng giá
thành sản phẩm
xây lắp
=
Chi phí sản xuất
dở dang
đầu kỳ
+
Chi phí sản xuất
phát sinh
trong kỳ
-
Chi phí sản xuất dở
dang cuối kỳ
Nh vậy giá thành sản phẩm là một phạm trù của sản xuất hàng hoá, phản ánh giá trị
thực của các khoản hao phí sản xuất. Mọi cách tính chủ quan, không phản ảnh đúng các
- 7 -
A B C D

yếu tố giá trị trong giá thành đều có thể dẫn đến việc phá vỡ mối quan hệ hàng hoá tiền tệ,
không xác định đợc hiệu quả kinh doanh và không thực hiện đợc tái sản xuất giản đơn và
tái sản xuất mở rộng.
5 . Yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính Z sản phẩm xây lắp:
Do đặc thù ngành XDCB và của sản phẩm xây dựng cho nên việc quản lý về đầu t
và xây dựng là quá trình khó khăn, phức tạp, nhất là từ khi chuyển từ nền kinh tế tập trung
sang nền kinh tế thị trờng. Việc quản lý thi công nói chung và quản lý chi phí và tính giá
thành sản phẩm nói riêng phải hết sức chặt chẽ.
Đối với sản phẩm xây lắp trớc khi thi công nhất thiết phải lập dự toán (dự toán thiết
kế, dự toán thi công). Trong quá trình sản xuất phải thờng xuyên đối chiếu với dự toán để
kịp thời phát hiện những sai lệch. Có thể nói dự toán đợc dùng làm thớc đo để đáng giá các
hoạt động.
Do phải thi công ngoài trời nên công tác quản lý việc sử dụng tài sản, vật t, thiết bị
rất phức tạp, hơn nữa do ảnh hởng thời tiết nên việc hao hụt, mất mát là khó tránh khỏi.
Điều này đòi hỏi tinh thần trách nhiệm cao của ngời sử dụng lao động và yêu cầu ngời quản
lý phải có biện pháp quản lý thích hợp.
Sản phẩm có giá trị lớn, nhu cầu về vốn lớn mà trong thi công không phải lúc nào
cũng có sẵn, do đó phải sử dụng hợp lý và tiết kiệm trong khi vẫn bảo đảm chất lợng công
trình theo đúng dự toán thiết kế, yêu cầu đảm bảo công trình.
Tính chất phức tạp của hoạt động đòi hỏi công tác quản lý phải xác định rõ từng bớc
công việc tránh sự chồng chéo các chức năng gây tốn kém về ngời và của. Ngời quản lý cần
phân định rõ chức năng trách nhiệm cho từng bộ phận, thậm chí từng cá nhân giúp cho hoạt
động tiến hành trôi chảy.
6 - Nhiệm vụ hạch toán chi phí sản xuất và tính Z sản phẩm xây lắp:
a - Vai trò của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm:
Kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng
là một công cụ quản lý kinh tế, phục vụ cho hoạt động quản lý giám sát bằng việc thực hiện
quan sát đo lờng, tính toán ghi chép các hoạt động sản xuất kinh doanh. Kế toán là phơng
pháp đo lờng và thông tin của những ngời có liên quan, đặc biệt là các nhà quản lý.
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cung cấp những thông tin sinh
động về sự tuần hoàn của tài sản, toàn bộ bức tranh của quá trình sản xuất từ khâu đầu tiên
cung cấp nguyên vật liệu (vật t) cho đến khâu cuối là tập hợp chi phí và tính giá thành đều
đợc phản ánh thật đầy đủ và sinh động qua thông tin kế toán.
Thông tin kế toán mang tính chất hai mặt là chi phí và kết quả. Nhờ đó mà ngời ta
xác định đợc hiệu quả của một thời kỳ kinh doanh và tình hình tài chính của Doanh nghiệp.
Nó có ý nghĩa rất lớn đối với việc ứng dụng hạch toán kinh doanh với nội dung cơ
bản là độc lập về tài chính lấy thu bù chi. Hơn nữa thông tin kế toán có hai đặc trng cơ bản
là thông tin và kiểm tra. Thông tin về hoạt động đồng thời kiểm tra về tiến độ, đơn giá, định
mức sử dụng lao động, vật t hay dự toán chi phí. Ví dụ nh: Thông tin kế toán trong sổ kế
toán chi tiết vật t cung cấp cho nhà quản lý mức vật t đã tiêu hao đồng thời cho phép kiểm
tra xem mức sử dụng nh thế đã khớp với dự toán hay không? Hay nói cách khác việc sử
dụng có lãng phí không?
Một trong các bí quyết giúp các nhà quản lý kinh tế thành công trong việc lựa chọn
và ra các quyết định kinh doanh chính xác là sử dụng thông tin do kế toán cung cấp. Theo
quan điểm truyền thống xa nay ngời ta thờng so sánh giữa giá bán và giá thành của sản
phẩm. Trong đó nhân tố giá bán không do Doanh nghiệp định đoạt mà phụ thuộc vào quan
hệ cung cầu trên thị trờng (trừ mặt hàng độc quyền). Bởi vậy các hoạt động kinh doanh, các
thơng vụ nào đó có mức lợi nhuận cao theo cách so sánh trên thị trờng không đợc tính đến,
thậm chí còn bị loại bỏ. Các nhà quản lý do vậy thờng ra quyết định trên cơ sở giá thành do
kế toán cung cấp mà chi phí lại là cơ sở để tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Vì vậy việc
hạch toán chính xác chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đối với
Doanh nghiệp, nếu không đợc tính đúng tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành sẽ có thể
- 8 -
dẫn đến các quyết định kinh doanh sai lầm làm Doanh nghiệp chẳng những bỏ lỡ mất thời
cơ kinh doanh mà còn có thể đi đến phá sản. Đồng thời thực hiện tốt công tác kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm còn là cơ sở để thực hiện giám đốc các hoạt động,
phát hiện và khắc phục kịp thời các tồn tại, phát hiện tiềm năng mới đảm bảo cho Doanh
nghiệp tồn tại và phát triển trong cơ chế tự hạch toán kinh doanh trong nền kinh tế thị trờng
ở nớc ta.
Hơn nữa, XDCB là nghành sản xuất tạo cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế quốc
dân, hàng năm chiếm 30% vốn đầu t của cả nớc. Sản phẩm của ngành là những công trình
có giá trị lớn, thời gian sử dụng lâu dài nên có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Hiện nay khối l-
ợng công việc XDCB của ngành tăng nhanh và song song với nó là vốn đầu t XDCB cũng
tăng nhanh. Vì vậy việc hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp càng
trở nên có ý nghĩa quan trọng góp phần đắc lực vào việc quản lý, sử dụng vốn một cách có
hiệu quả, khắc phục tình trạng lãng phí, thất thoát vốn trong điều kiện sản xuất kinh doanh
xây lắp qua nhiều khâu. Có thể nói hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
vốn đã là một phần hành cơ bản trong công tác kế toán lại càng có ý nghĩa quan trọng đối
với Doanh nghiệp xây lắp và xã hội. Bên cạnh đó nó cũng là cơ sở để Nhà n ớc kiểm soát
vốn đầu t XDCB và thu thuế.
b - Nhiệm vụ của công tác kế toán chi phí sản xuất và tính Z sản phẩm:
Để thực hiện đợc mục tiêu phấn đấu tiết kiệm chi phí sản xuất hạ giá thành sản
phẩm thì đơn vị kinh doanh xây lắp phải sử dụng vào sản xuất nhiều biện pháp khác nhau.
Đứng trên giác độ quản lý, cần phải biết nguồn gốc hay con đờng hình thành của nó, nội
dung cấu thành của giá thành, để từ đó biết đợc nguyên nhân cơ bản nào, những nhân tố
cụ thể nào đã làm tăng hoặc giảm giá thành và chỉ có trên cơ sở đó, ngời quản lý mới đề
ra đợc biện pháp cần thiết để hạn chế loại trừ ảnh hởng của nhân tố tiêu cực tác động nên
và phát huy đợc mức độ ảnh hởng của các nhân tố tích cực, khai thác khả năng, tiềm năng
trong việc quản lý, sử dụng nguồn vật t, lao động và tiền vốn. Một trong những biện pháp
quan trọng và không thể thiếu đợc, phải kể đến biện pháp quản lý công cụ kế toán. Bởi
vậy phải tính đúng, tính đủ chi phí sản xuất vào giá thành mới đảm bảo phát huy công
dụng của công tác kế toán trong quản lý sản xuất. Do đó nhiệm vụ chủ yếu của công tác
kế toán hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp là: xác định chính
xác đối tợng tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính giá thành phù hợp với điều kiện
thực tế của Doanh nghiệp, thoả mãn yêu cầu quản lý đặt ra, vận dụng phơng pháp hạch
toán chi phí sản xuất và phơng pháp tính giá thành một cách khoa học, hợp lý.
Đảm bảo cung cấp một cách kịp thời, chính xác, đầy đủ các số liệu cần thiết cho
công tác quản lý cụ thể là:
- Phản ảnh đầy đủ, chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí thực tế phát sinh cho từng đối
tợng.
- Kiểm tra tình hình chi phí về vật t, lao động, chi phí sử dụng máy thi công và các
chi phí khác, phát hiện kịp thời các khoản chênh lệch so với định mức, các chi phí khác
ngoài kế hoạch, các khoản thiệt hại mất mát h hỏng trong sản xuất từ đó đề xuất các biện
pháp ngăn chặn và khắc phục kịp thời.
- Thực hiện phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất để có những kiến
nghị cho các nhà quản trị Doanh nghiệp ra các quyết định phù hợp.
- Tổ chức tập hợp phân bổ từng lọai chi phí sản xuất theo đúng đối tợng hạch toán
chi phí sản xuất đã xác định bằng phơng pháp thích hợp, xác định đúng giá trị sản phẩm dở
dang cuối kỳ.
- Vận dụng phơng pháp tính giá thành thích hợp để tính giá thành theo đối tợng
thích hợp, tính đúng theo các khoản mục đã quy định và kỳ tính giá thành đã xác định.
- Thực hiện phân tích tình hình thực hiện giá thành và kế hoạch hạ giá thành sản
phẩm, kịp thời có những biện pháp tích cực để phấn đấu không ngừng tiết kiệm chi phí sản
xuất và hạ giá thành sản phẩm.
- 9 -
II. Đối tợng và phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất trong Doanh nghiệp kinh doanh
xây lắp:
1. Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và căn cứ xác định đối tợng hạch toán:
Trong công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp có thể
nói xác định đúng đắn đối tợng hạch toán chi phí sản xuất vừa là công việc đầu tiên vừa là
công việc có tính chất định lợng cho toàn bộ khâu kế toán này.
Bởi vì, căn cứ vào đối tợng hạch toán chi phí sản xuất đã xác định, kế toán tiến hành
hạch toán chi phí sản xuất cho các đối tợng có liên quan, xác định phơng pháp hạch toán
chi phí sản xuất một cách hợp lý, đồng thời cung cấp số liệu để tính giá thành sản phẩm
chính xác, kịp thời.
Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất trong kinh doanh xây lắp là phạm vi giới hạn
trong công tác tập hợp chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp, nhằm phục vụ cho việc thông tin
kiểm tra chi phí và tính giá thành sản phẩm. Giới hạn tập hợp chi phí có thể là nơi phát sinh
chi phí, có thể là đối tợng chịu chi phí. Thực chất của việc xác định đối tợng tập hợp chi phí
là xác định nơi phát sinh chi phí và đối tợng chịu chi phí.
Căn cứ để xác định đối tợng chịu chi phí:
- Đặc điểm qui trình công nghệ sản xuất: sản xuất giản đơn hay phức tạp, liên tục
hay song song.
Trong sản xuất giản đơn, sản phẩm cuối cùng nhận đợc do quá trình chế biến liên
tục vật liệu. Đối tợng tập hợp chi phí có thể là sản phẩm hoàn thành hay toàn bộ quá trình
sản xuất. Nếu tính chất sản xuất phức tạp, sản phẩm đạt đợc qua nhiều bớc chế biến, đối t-
ợng hạch toán chi phí có thể là sản phẩm, nhóm sản phẩm hoặc các giai đoạn công nghệ
Loại hình sản xuất đơn chiếc, sản xuất hàng loạt:
Đối với loại hình sản xuất đơn chiếc đối tợng tập hợp chi phí sản xuất là từng sản
phẩm còn với sản xuất hàng loạt đợc tập hợp riêng theo từng lô sản phẩm.
- Đặc điểm tổ chức sản xuất:
Nếu quá trình sản xuất đợc tổ chức theo từng đơn vị thi công (các đội xây dựng, tổ
xây dựng) chi phí sản xuất có thể đợc hạch toán theo từng đơn vị. Nếu không có việc phân
chia các bộ phận thi công, đối tợng hạch toán chi phí có thể là đối tợng chịu phí.
- Yêu cầu hạch toán chi phí và trình độ tổ chức hạch toán chi phí.
Dựa trên cơ sở trình độ và yêu cầu quản lý, kế toán tiến hành xác định đối tợng hạch
toán chi phí sản xuất.Với trình độ quản lý cao đối tợng hạch toán chi phí đợc nhìn nhận dới
nhiều góc độ khác nhau. Do đó có thể chi tiết đối tợng hạch toán chi phí và nâng cao chất l-
ợng thông tin kế toán. Ngợc lại, với trình độ quản lý thấp hơn, đối tợng hạch toán có thể bị
hạn chế và thu hẹp. Điều đó ảnh hởng không tốt tới vấn đề cung cấp thông tin kế toán.
Trong sản xuất kinh doanh xây lắp, với tính chất phức tạp của qui trình công nghệ và loại
hình sản xuất đơn chiếc quá trình sản xuất thờng đợc phân chia thành khu vực, bộ phận thi
công các hạng mục khác nhau. Trong đó mỗi bộ phận có phơng án tổ chức khác nhau, mỗi
hạng mục công trình có thiết kế, cấu tạo vật chất và giá thành dự toán riêng. Do vậy, tuỳ
vào từng công trình cụ thể, trình độ quản lý của từng doanh nghiệp nhất định, đối tợng hạch
toán chi phí sản xuất sản phẩm xây lắp có thể là hạng mục công trình, đơn đặt hàng, giai
đoạn công việc hoàn thành, bộ phận thi công. Thực tế ở các đơn vị xây lắp chủ yếu tập hợp
chi phí theo công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hàng.
Xác định đúng đối tợng hạch toán chi phí phù hợp với thực tế sản xuất kinh doanh
của đơn vị có ý nghĩa rất lớn giúp kế toán chi phí tổ chức hợp lý từ khâu hạch toán ban đầu,
tổ chức tài khoản và sổ sách chi tiết, tổ chức hạch toán theo đúng đối tợng xác định.
Các phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất.
Khái niệm: Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là một hoặc một hệ thống các
phơng pháp đợc sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất phát sinh trong giới
hạn đối tợng hạch toán chi phí. Nói cách khác, phơng pháp hạch toán chi phí đợc hình
thành trong sự phụ thuộc với đối tợng hạch toán chi phí. Với mỗi đối tợng cụ thể, kế toán sẽ
xác định phơng pháp hạch toán thích hợp.
Trong đơn vị xây dựng các phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất thờng đợc sử
dụng bao gồm:
- 10 -
- Phơng pháp hạch toán theo công trình và hạng mục công trình: Phơng pháp này
đợc sử dụng khi đối tợng hạch toán chi phí của doanh nghiệp là toàn bộ công trình hay từng
hạng mục công trình. Hàng tháng chi phí sản xuất phát sinh liên quan tới công trình nào, kế
toán tập hợp chi phí phát sinh cho công trình, hạng mục công trình đó theo phơng pháp trực
tiếp hoặc gián tiếp.
- Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn đặt hàng: Trờng hợp doanh
nghiệp xác định đối tợng tập hợp chi phí là đơn đặt hàng riêng biệt, các chi phí phát sinh
liên quan tới đơn đặt hàng nào sẽ đợc phân bổ cho đơn đặt hàng đó. Khi đơn đặt hàng hoàn
thành tổng số chi phí phát sinh theo đơn đặt hàng kể từ khi khởi công đến khi hoàn thành là
giá thành thực tế của đơn đặt hàng đó.
- Phơng pháp hạch toán chi phí theo khối lợng công việc hoàn thành: Theo phơng
pháp này toàn bộ chi phí phát sinh trong kỳ đợc tập hợp cho đối tợng chịu phí. Giá thành
thực tế của khối lợng công tác xây lắp hoàn thành là toàn bộ chi phí bỏ ra trong giai đoạn
thi công khối lợng công tác xây lắp đó.
- Phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất theo đơn vị hoặc theo khu vực thi công:
Phơng pháp này đợc áp dụng khi đối tợng hạch toán chi phí của Doanh nghiệp xây lắp là
các bộ phận, khu vực thi công. Theo phơng pháp này, các chi phí phát sinh trong phạm vi
các bộ phận, khu vực thi công đợc tập hợp cho các đối tợng chịu phí nh công trình, hạng
mục công trình Cuối tháng tổng số chi phí phát sinh ở từng đơn vị chỉ đ ợc so sánh với dự
toán để xác định kết quả hạch toán kinh tế nội bộ. Khi các công trình, hạng mục công trình
hoàn thành, kế toán tiến hành tính giá bằng các phơng pháp thích hợp.
Cho dù các doanh nghiệp xây lắp áp dụng các phơng pháp hạch toán chi phí nào,
trên thực tế, có một số chi phí phát sinh có liên quan đến nhiều đối tợng. Do vậy, nhiệm vụ
của kế toán chi phí sản xuất không chỉ là tập hợp trực tiếp chi phí liên quan đến một đối t -
ợng mà phải phân bổ các khoản chi phí này một cách chính xác và hợp lý. Có thể sử dụng
các phơng pháp phân bổ sau:
Việc phân bổ này đợc áp dụng trong trờng hợp chi phí sản xuất phát sinh có liên
quan đến nhiều đối tợng mà không thể tổ chức hạch toán ban đầu một cách riêng lẻ. Để
thực hiện phơng pháp này, kế toán cần phải lựa chọn tiêu thức phân bổ cho các đối tợng
chịu phí. Yêu cầu đối với tiêu thức là phải xác định mức độ ảnh hởng tới các đối tợng một
cách rõ rệt. Các tiêu thức thờng đợc sử dụng là: khối lợng công việc thực hiện, chi phí nhân
công trực tiếp, số giờ lao động, định mức chi phí.v.v.
Dựa vào các tiêu thức, quá trình phân bổ đợc tiến hành theo CT sau:
Ti
T
Trong đó: Ci: Chi phí phân bổ cho đối tợng i
C: Tổng chi phí tập hợp cần phân bổ
Ti: Tiêu thức phân bổ của đối tợng i
T: Tổng tiêu thức phân bổ
Trong một số trờng hợp chi phí cần phân bổ nhỏ không ảnh hởng đáng kể mà việc
xác định tiêu thức lại phức tạp ngời ta có thể áp dụng phơng pháp chia đều để tiết kiệm thời
gian và công sức. Theo đó:
C
n
2. Hạch toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp kinh doanh xây lắp.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại với tính chất và nội dung
khác nhau, phơng pháp tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành cũng khác nhau. Việc tập
hợp chi phí đợc tiến hành theo một trình tự hợp lý, khoa học thì mới có thể tính giá thành
sản phẩm một cách chính xác, kịp thời.Trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và trong
và trong doanh nghiệp xây lắp nói riêng, trình tự tổng hợp chi phí sản xuất bao gồm các bớc
sau:
B ớc 1: Tập hợp các chi phí sản xuất có liên quan đến từng đối tợng sử dụng.
B ớc 2 : Tính toán, phân bổ lao vụ của ngành sản xuất có liên quan cho từng đối tợng sử
dụng trên cơ sở khối lợng lao vụ phục vụ và giá thành đơn vị lao vụ phục vụ.
- 11 -
Ci =
*C
Ci =
n: Tổng số đối tợng cần phân bổ
B ớc 3: Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tợng có liên quan theo
tiêu thức phù hợp.
B ớc 4: Xác định thiệt hại thực trong sản xuất (thiệt hại sản phẩm hỏng, ngừng sản
xuất) tính vào chi phí sản xuất trong kỳ.
Trong chế độ kế toán hiện hành có hai phơng pháp hạch toán chi phí sản xuất là hạch
toán chi phí sản xuất theo phơng pháp kê khai thờng xuyên và phơng pháp kiểm kê định kỳ.
Tuỳ theo đặc điểm, qui mô sản xuất kinh doanh của đơn vị mà kế toán có thể áp dụng một
trong hai phơng pháp trên. Trong giới hạn của luận văn tốt nghiệp này, nếu hạch toán chi
phí sản xuất theo phơng pháp kê khai thờng xuyên (KKTX) thì chu trình hạch toán nh sau:
2.1. Hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ,
nhiên liệu đợc xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm. Đối với những vật liệu khi
xuất dùng có liên quan trực tiếp đến từng đối tợng tập hợp chi phí riêng biệt (công trình,
hạng mục công trình ) thì hạch toán trực tiếp cho đối tợng đó. Trờng hợp vật liệu xuất
dùng có liên quan tới nhiều đối tợng tập hợp chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng đợc
thì phải áp dụng phơng pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho các đối tợng có liên
quan. Tiêu thức phân bổ thờng đợc sử dụng là: phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số,
theo trọng lợng, khối lợng sản phẩm
Công thức phân bổ nh sau:
Chi phí vật
liệu phân bổ
cho từng
đối tợng
=
Tiêu thức phân
bổ
của từng
đối tợng
x
Tổng chi phí vật liệu
cần phân bổ
Tổng tiêu thức
phân bổ
Tài khoản sử dụng: Để tập hợp và phân bổ chi phí NVL trực tiếp, kế toán sử dụng
TK 621 "Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp"
TK này đợc mở chi tiết cho từng đối tợng và có kết cấu nh sau:
Bên Nợ:
- Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt động xây lắp
trong kỳ hạch toán.
Bên Có:
- Trị giá NVL trực tiếp sử dụng không hết đợc nhập lại kho.
- Kết chuyển hoặc phân bổ trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho hoạt
động xây lắp trong kỳ vào TK 154 "Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang và chi tiết cho
các đối tợng để tính giá thành công trình xây lắp. TK 621 cuối kỳ không có số d.
- 12 -
sơ đồ số 1.1
Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
(Theo phơng pháp KKTX và tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ)
2.2.Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là khoản tiền lơng, tiền công trả cho công nhân trực tiếp
thực hiện khối lợng công tác xây lắp và công nhân phục vụ công tác xây lắp. Chi phí nhân
công trực tiếp bao gồm tiền lơng, lơng phụ, phụ cấp, thởng, ngoài ra nó còn bao gồm tiền l-
ơng nghỉ phép, tiền lơng trong thời gian ngừng việc hoặc huy động làm nghĩa vụ xã hội nh
tập quân sự, học tập. Khoản chi này không bao gồm tiền lơng nhân công điều khiển máy
thi công, tiền lơng nhân viên quản lý đội và các khoản trích BHXH, BHYT, KFCĐ của
công nhân trực tiếp xây lắp.
Chi phí nhân công trực tiếp đợc tính vào giá thành công trình, hạng mục công trình
chủ yếu theo phơng pháp trực tiếp. Trong trờng hợp khoản chi phí này liên quan tới nhiều
đối tợng chịu phí, kế toán có thể phân bổ cho các đối tợng theo tiêu thức nh định mức hao
phí nhân công tỷ lệ với khối lợng xây lắp hoàn thành.
Trong XDCB, có 2 cách tính lơng chủ yếu đó là tính lơng theo thời gian và tính lơng
theo công việc giao khoán.
Để tập hợp và phân bổ chi phí nhân công trực tiếp, kế toán sử dụng TK 622 Chi
phí nhân công trực tiếp. Kết cấu của TK này nh sau:
Bên Nợ: Chi phí nhân công trực tiếp tham gia quá trình xây lắp bao gồm tiền lơng,
thởng, phụ cấp
Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào bên Nợ TK 154 "Chi phí sản
xuất kinh doanh dở dang". TK 622 cuối kỳ không có số d.
- 13 -
Xuất vật liệu vào sản
xuất sản phẩm xây lắp
TK 152 TK 621
Trị giá NVL sử dụng không
hết nhập lại kho
TK 152
Mua NVL sử dụng ngay
(không qua kho)
Cuối kỳ kết chuyển trị giá
NVL sử dụng cho xây lắp
TK 331,111,112 TK 154
Hoàn tạm ứng
TK 141 (1413)
Sơ đồ số 1.2
Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp
2.3. Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công
Chi phí máy thi công là loại chi phí đặc thù của sản xuất kinh doanh xây lắp. Nó
bao gồm toàn bộ chi phí về nguyên liêụ, máy móc, lao động và chi phí bằng tiền khác phục
vụ cho quá trình sử dụng máy thi công của doanh nghiệp. Do đặc điểm hoạt động của máy
thi công trong công tác xây lắp mà chi phí máy thi công đợc chia làm 2 loại:
- Chi phí tạm thời: là những chi phí có liên quan đến việc lắp đặt, chạy thử, di
chuyển máy thi công. Các khoản này đợc phân bổ dần trong thời gian sử dụng máy.
- Chi phí thờng xuyên: là những chi phí phát sinh thờng xuyên, phục vụ cho hoạt
động của máy thi công nh: khấu hao máy, tiền lơng công nhân điều khiển máy, nhiên liệu
động lực chạy máy, chi phí sửa chữa thờng xuyên và chi phí khác.
Trong chi phí sử dụng máy thi công không bao gồm tiền lơng nhân viên vận chuyển
máy, chi phí trong thời gian ngừng sản xuất.
Việc hạch toán chi phí máy thi công phụ thuộc rất nhiều vào hình thức tổ chức sử
dụng máy. Thông thờng, các doanh nghiệp sử dụng các hình thức sau đây:
- Nếu tổ chức đội máy thi công riêng biệt và có phân cấp hạch toán cho đội máy có
tổ chức hạch toán kế toán riêng, thì việc hạch toán đợc tiến hành tơng tự nh một đội xây lắp
và sử dụng các TK 621, 622, 627 và TK 154.
- Nếu không tổ chức đội máy thi công riêng biệt; hoặc có tổ chức đội máy thi công
riêng biệt nhng không tổ chức kế toán riêng cho đội máy thi công thì toàn bộ chi phí sử
dụng máy (kể cả chi phí thờng xuyên và tạm thời nh phụ cấp lơng, phụ cấp lu động của xe,
máy thi công) sẽ sử dụng TK 623 "Chi phí sử dụng máy thi công" để hạch toán. Kết cấu và
nội dung phản ánh của TK này nh sau:
Bên Nợ:
Các chi phí liên quan đến máy thi công (chi phí NVL cho máy hoạt động, chi phí
tiền lơng và các khoản phụ cấp lơng, tiền công của công nhân trực tiếp
điều khiển máy, chi phí bảo dỡng, sửa chữa máy thi công )
Bên Có:
Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào bên Nợ TK 154. Tài khoản 623 không
có số d cuối kỳ.
TK 623 có 6 TK cấp 2.
- 14 -
Tiền lơng phải trả cho
công nhân trực tiếp sản xuất
TK 334,111
TK 622
Kết chuyển (phân bổ ) chi
phí nhân công trực tiếp
TK 154
Trích trớc tiền
lơng nghỉ phép
TK 335
TK: 1413
Tạm ứng chi phí nhân công
để thực hiện giá trị khoán

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét