4.5 Tiếp tục đánh giá tác động của tự do hoá thị trờng 36
4.6 Một số đề xuất đối với các nhà đàm phán Việt Nam về thơng mại dịch vụ 37
Chơng 5: Các kết luận chính nhằm xây dựng chiến lợc phát triển tổng thể Ngành Dịch vụ
Việt Nam tới năm 2020
38
Phụ Lục 40
Bảng
Bảng 1: Chỉ tiêu dự báo phát triển kinh tế đến năm 2010 20
Bảng 2: Kiểm định các chỉ tiêu dự báo đến năm 2010, dựa trên số liệu năm 2000 20
Bảng 3: Số liệu dự báo cho năm 2005, dựa trên số liệu năm 2003 21
Bảng 4: Dự báo cho khu vực nông nghiệp đến năm 2010 21
Bảng 5: Dự báo cho khu vực công nghiệp đến năm 2010 21
Bảng 6: Dự báo tổng quát tăng trởng GDP đến năm 2010 22
Bảng 7: Cơ cấu tối u của khu vực dịch vụ để hỗ trợ tăng trởng nhanh 22
Bảng 8: Đề xuất tốc độ tăng trởng cho các phân ngành dịch vụ Việt Nam, giai đoạn 2005-2010 23
Bảng 9: Đề xuất một số mục tiêu phát triển kinh tế trong Chiến lợc kinh tế - xã hội quốc gia của
Việt Nam 2005-2010 23
Bảng 10: Định hớng một số ngành dịch vụ để đạt mục tiêu toàn diện 23
Bảng 11: Đề xuất một số mục tiêu phát triển kinh tế trong Chiến lợc kinh tế xã hội quốc gia của
Việt Nam, giai đoạn 2010 - 2020
23
Bảng 12 Đề xuất phơng pháp tiếp cận đối với việc đa ra các yêu cầu về tự do hoá tiếp cận thị
trờng đối với các dịch vụ có tiềm năng xuất khẩu cao.
33
Bảng 13 Đề xuất cách tiếp cận trong việc đa ra các bản chào đối với những dịch vụ có tiềm năng
xuất khẩu cao
35
Bảng 14 Đề xuất đờng lối đa ra bản chào nhằm thu hút đầu t nớc ngoài 35
Bảng 15 Đề xuất phơng pháp tiếp cận với những dịch vụ trong nớc có khả năng tạo việc làm cao 36
Bảng 16 Đề xuất phơng pháp tiếp cận với những dịch vụ trong nớc ít có khả năng tạo việc làm 36
v
Thuật ngữ việt tắt
AFAS Hiệp định Khung về Dịch vụ của ASEAN
BCC Hợp đồng Hợp tác Kinh doanh
CEE Các nền kinh tế Trung và Đông Âu
CIF Chi phí, bảo hiểm, cớc vận tải
CPC Phân loại sản phẩm trung tâm
DC Các nớc đang phát triển
DME Nền kinh tế thị trờng phát triển
DWT Tấn khối lợng tịnh
FDI Đầu t trực tiếp nớc ngoài
FOB Giao lên mạn tàu
GATS Hiệp định chung về Thơng mại Dịch vụ
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
ICT Công nghệ Thông tin và Truyền thông
IFC Tập đoàn tài chính Quốc tế
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
ISIC Phân loại Ngành Chuẩn Quốc tế
ITC Trung tâm Thơng mại Quốc tế (do UNCTAD và WTO tổ chức)
NPL Khoản cho vay không sinh lời
RPK Doanh số theo kilômét hành khách
SBV Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam (Ngân hàng Trung Ương)
SOE Doanh nghiệp nhà nớc (DNNN)
STCW Các tiêu chuẩn đào tạo, Cấp chứng chỉ và Theo dõi
UNCTAD Hôi nghị Liên Hợp Quốc về Thơng mại và Phát triển
UNDP Chơng trình phát triển của Liên Hợp Quốc
WB Ngân hàng Thế giới (NHTG)
WTO Tổ chức Thơng mại Thế giới
vi
Tóm tắt báo cáo
Bối cảnh
Quá trình Đổi Mới gần 20 năm qua ở Việt Nam đã đem lại những thành tựu kinh-tế xã hội lớn lao. Với tốc độ tăng
trởng GDP bình quân đầu ngời trung bình 5,9%/năm trong thời kỳ Đổi Mới, Việt Nam là một trong những quốc gia
đạt mức tăng trởng cao nhất trên thế giới. Sự phát triển kinh tế của Việt Nam cho đến nay luôn đi cùng với chính
sách mở cửa. Năm 2002, tổng giá trị ngoại thơng đã vợt tổng giá trị GDP, so với 63% GDP năm 1990. Tuy nhiên,
phần lớn các hoạt động ngoại thơng đều có giá trị gia tăng thấp.
Mặc dù đạt mức tăng trởng GDP cao nhng nền kinh tế Việt Nam vẫn còn phải đối mặt với khá nhiều thách thức.
Chẳng hạn, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, khu vực dịch vụ vẫn còn lạc hậu, năng lực cạnh tranh thấp. Tỷ trọng
của khu vực dịch vụ chỉ đạt cha đến 40% GDP, thấp hơn nhiều so với mức trung bình 50% của các nớc thu nhập
thấp và 71% của các nớc phát triển.
Các nghiên cứu tổng quan cho thấy rằng, so với các nớc trong khu vực, năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ
Việt Nam còn rất thấp. Trong khi đó, sức ép từ các cam kết khu vực và song phơng của Việt Nam cũng nh sức ép
tự do hoá khu vực và song phơng giữa các nớc ngày càng tăng, cha kể đến các nỗ lực đàm phán của Việt Nam
để gia nhập Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO). Hội nhập kinh tế quốc tế có tác động trực tiếp đến khu vực dịch
vụ, nhng đồng thời cũng tạo ra những tác động gián tiếp đến toàn bộ nền kinh thế thông các mối liên hệ giữa khu
vực dịch vụ với các hoạt động kinh tế khác. Một ví dụ điển hình là giá cả và chất lợng của các dịch vụ nh Viễn
Thông và Điện lực đóng vai trò rất quan trọng đối với năng lực cạnh tranh của các ngành công nghiệp hớng về
xuất khẩu cũng nh đối với việc thu hút đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI).
ở Việt Nam hiện nay nhiều vấn đề về dịch vụ còn cha đợc hiểu một cách thấu đáo và sự phát triển của khu vực
này cha thực sự đợc quan tâm đúng mức. Mặc dù trong những năm qua, một số bộ ngành đã xây dựng chiến
lợc phát triển cho một vài phân ngành dịch vụ cụ thể nhng trên thực tế các chiến lợc đó đã không theo kịp với
thực tiễn do sự thay đổi nhanh chóng của bối cảnh bên trong cũng nh bên ngoài. Các chiến lợc đó vẫn cha tính
đến các cam kết hội nhập khu vực và song phơng, cũng nh những cam kết trong đàm phán gia nhập WTO của
Việt Nam và đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới sự không nhất quán trong việc xây dựng những chiến
lợc đó. Hơn thế nữa, ở Việt Nam vẫn cha có sự phối hợp liên ngành chặt chẽ giữa các chiến lợc phát triển của
các phân ngành dịch vụ cũng nh cha có định hớng phát triển cho khu vực dịch vụ nói chung trong bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế.
Một chiến lợc phát triển tổng thể cho khu vực dịch vụ trong đó bao gồm những phân ngành dịch vụ quan trọng và
các cam kết tự do hoá của các ngành này ở Việt Nam là rất cần thiết và cấp bách. Một chiến lợc tổng thể nh vậy
sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách và các nhà quản lí chuẩn bị nội lực để đối phó với những thách thức; tận
dụng có hiệu quả những cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời vẫn hớng vào các mục tiêu và u tiên phát
triển kinh tế - xã hội của đất nớc.
Trong bối cảnh đó, bản báo cáo này mong muốn đợc chia sẻ những kết quả nghiên cứu ban đầu về hiện trạng của
ngành dịch vụ Việt Nam, các phơng án và đề xuất cơ bản về Chiến lợc tổng thể phát triển ngành dịch vụ của đất
nớc. Báo cáo này còn nhằm mục đích thu thập ý kiến đóng góp từ phía các Cơ quan Chính phủ và các nhà tài trợ.
Những ý kiến đóng góp đó, cùng với các kết quả nghiên cứu phân tích thêm trong năm 2005 của Dự án do UNDP
tài trợ, sẽ đợc sử dụng để hoàn tất những hợp phần nghiên cứu đã đợc đề cập đến ở trên, tạo cơ sở cho chính
phủ xây dựng một chiến lợc quốc gia nhằm phát triển một khu vực dịch vụ hiệu quả và có khả năng cạnh tranh
quốc tế, trong đó có tính đến những cam kết quốc tế của Việt Nam. Chiến lợc đó cần xác định rõ mục tiêu cho khu
vực dịch vụ đến năm 2020 và t vấn cho các nhà nhà hoạch định chính sách cũng nh các nhà quản lý doanh
nghiệp phát triển hơn nữa dịch vụ phù hợp với những u tiên và những mục tiêu phát triển con ngời và kinh tế của
Việt Nam.
Nội dung Báo cáo
Chơng 1 phân tích ngắn gọn các vấn đề toàn cầu về phát triển dịch vụ và tự do hoá dịch vụ;
Chơng 2 phân tích thực trạng khu vực dịch vụ của Việt Nam trên hai khía cạnh: Thực trạng phát triển (bao gồm cả
đánh giá về năng lực cạnh tranh), và môi trờng chính sách và luật pháp cho phát triển khu vực dịch vụ.
1
Chơng 3 đề xuất một khuôn khổ ban đầu cho mục tiêu tổng thể, các mục tiêu tăng trởng chiến lợc, các kiến
nghị chính sách để đạt đợc các mục tiêu đó và các lĩnh vực cần u tiên phát triển. Vai trò của Chính phủ, khu vực
t nhân và các tổ chức quốc tế cũng đợc đề cập đến trong chơng này. Liên quan đến vấn đề cuối cùng này,
những u tiên đối với tài trợ quốc tế cũng đợc đề xuất và đây là vấn đề cần đợc thảo luận với các nhà tài trợ.
Chơng 4 trình bày lộ trình ban đầu cho quá trình hội nhập quốc tế cùng với các đề xuất về những yêu cầu đối với
các đối tác nhằm tăng cờng sự tiếp cận thị trờng và đa ra các bản chào với nội dung không làm giảm năng lực
cạnh tranh của khu vực dịch vụ Việt Nam. Chơng này còn phác hoạ các mục tiêu cần đạt đợc thông qua hội
nhập quốc tế cũng nh các quyền lợi của một nền kinh tế đang phát triển nh Việt nam khi gia nhập Tổ chức
Thơng mại Thế giới (WTO).
Cuối cùng, Chơng 5 trình bày một số kết luận chính, làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lợc tổng thể phát triển
ngành dịch vụ Việt Nam đến năm 2020.
Phụ lục A bao gồm các bảng từ A1 đến A12 (đợc chú dẫn trong báo cáo) và Phụ lục B bao gồm các bảng biểu
còn lại.
2
Chơng 1
Các vấn đề toàn cầu
về Phát triển và Tự do hoá Ngành Dịch vụ
1.1. Dịch vụ là nhân tố thúc đẩy tăng trởng nội địa và ổn định x hội
1.1.1 Phát triển kinh tế liên quan chặt chẽ tới sự tăng trởng nhanh của khu vực dịch vụ
Ngành dịch vụ tồn tại trong tất cả các nền kinh tế bởi vì chúng là nhân tố thúc đẩy các hoạt động kinh tế và góp
phần quan trọng vào nâng cao chất lợng cuộc sống của ngời dân. Các dịch vụ hạ tầng cơ sở (các ngành dịch vụ
tiện ích, xây dựng, giao thông, viễn thông và tài chính) hỗ trợ tất cả các loại hình doanh nghiệp. Giáo dục, y tế và
các dịch vụ giải trí có ảnh hởng đến chất lợng lao động, các dịch vụ kinh doanh và chuyên nghiệp giúp tạo ra khả
năng chuyên môn nhằm nâng cao tính cạnh tranh và chất lợng các dịch vụ chính phủ có vai trò quyết định đối với
môi trờng kinh doanh của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu đợc tiến hành trong 20 năm qua đã chỉ ra mối quan hệ giữa tăng trởng kinh tế nhanh và phát
triển các ngành dịch vụ chủ chốt, trong đó đáng chú ý nhất là ngành viễn thông, dịch vụ chuyên môn và dịch vụ
kinh doanh. Nói chung, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, một số ngành dịch vụ hay các phân ngành dịch vụ
nhất định sẽ trở nên quan trọng hơn và là động lực thúc đẩy phát triển. Thông thờng, trong việc tạo dựng cơ sở
cho nền kinh tế, dịch vụ tiện ích và xây dựng là 2 ngành quan trọng đầu tiên. Vận tải và viễn thông là hai ngành
quan trọng tiếp theo trong cung cấp các cơ sở hạ tầng kinh tế. Tiếp theo đó, dịch vụ kinh doanh và dịch vụ tài chính
sẽ trở nên phức tạp hơn, hỗ trợ cho quá trình tăng trởng liên tục và tạo ra chuyên môn hoá. Đồng thời, cũng có sự
di chuyển từ các ngành công nghiệp kỹ năng thấp và dịch vụ tiêu dùng (ví dụ nh các dịch vụ bán lẻ) sang các
ngành công nghiệp kỹ năng cao đợc hỗ trợ bởi các dịch vụ trung gian (ví dụ, dịch vụ kinh doanh). Mức độ sẵn có
của các dịch vụ đầu vào chất lợng cao góp phần làm tăng giá trị gia tăng của hàng công nghiệp và tạo ra các việc
làm kỹ năng cao hơn. Thông thờng, khi nền kinh tế trở thành nền kinh tế phát triển, phần lớn quá trình sản xuất
trung gian sẽ bao gồm các dịch vụ cung ứng cho các công ty dịch vụ khác
3
.
Ngành dịch vụ đóng góp trung bình khoảng 68% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu, với tỷ trọng ngày càng
tăng trong tổng thu nhập quốc dân (GNI) tính theo đầu ngời. Ngay cả ở phần lớn các nền kinh tế kém phát triển
nhất, khu vực dịch vụ cũng chiếm trung bình khoảng hơn 40% GDP. Trên thực tế, không phải tỷ trọng tuyệt đối của
khu vực dịch vụ trong GDP của một nền kinh tế đang phát triển hay chuyển đổi sẽ tạo ra sự khác biệt về phát triển
kinh tế, mà là tốc độ tăng trởng tơng đối của cả ba khu vực (nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ). Ngành dịch
vụ tiếp tục dẫn đầu về tăng trởng trong các nền kinh tế ở tất cả các trình độ phát triển, một phần là do sự thay đổi
nhanh chóng trong công nghệ thông tin và viễn thông đã hỗ trợ quá trình cung cấp dịch vụ. Trong giai đoạn 1998-
2003, tốc độ tăng trởng ngành dịch vụ toàn cầu đạt trung bình khoảng 7%/năm, so với tăng trởng GDP trung bình
toàn cầu là 4,7%/năm
Một nhận thức sai lầm khá phổ biến là tốc độ tăng trởng của khu vực dịch vụ thấp hơn tốc độ tăng trởng chung
của toàn bộ nền kinh tế là điều bình thờng ở các nớc có trình độ phát triển kinh tế thấp và thiếu lợi thế cạnh tranh
trong ngành dịch vụ. Trên thực tế, chính sự tăng trởng của khu vực dịch vụ sẽ thúc đẩy có hiệu quả nhất sự tăng
trởng của toàn bộ nền kinh tế. Tất cả các nền kinh tế đang chuyển đổi có tốc độ tăng trởng hai chữ số kể từ năm
1998 đều có tốc độ tăng trởng khu vực dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trởng GDP. Các đầu vào dịch vụ đóng góp
một tỷ lệ giá trị gia tăng ngày càng lớn (từ 30% đến 70%) vào sản xuất hàng hoá. Các dịch vụ duy trì và hỗ trợ toàn
bộ quá trình sản xuất bằng cách cung cấp dịch vụ đầu vào thợng nguồn (ví dụ nh nghiên cứu và phát triển, các
nghiên cứu khả thi, thiết kế sản phẩm, đào tạo nhân viên), và các dịch vụ đầu vào trung nguồn (ví dụ nh các dịch
vụ kế toán, luật pháp, kỹ thuật, kiểm nghiệm, các dịch vụ máy tính, sửa chữa và bảo dỡng thiết bị, tài chính, viễn
thông), và các dịch vụ đầu vào hạ nguồn (nh quảng cáo, phân phối, vận tải, kho hàng). Sẽ không thể phát triển
một nền công nghiệp cạnh tranh nếu không có các dịch vụ đầu vào có chất lợng cao. Điều này có nghĩa là, một
khi các thị trờng hội nhập, chất lợng và mức độ sẵn có của đầu vào dịch vụ sẽ trở nên quan trọng hơn đối với
năng lực cạnh tranh.
2
Báo cáo Thơng mại Thế giới năm 2004 của Tổ chức Thơng Mại Thế giới (WTO) chú trọng đến các ngành dịch vụ viễn thông, tài chính, dịch vụ
kinh doanh và vận tải nh là những ngành dịch vụ cơ sở hạ tầng chủ chốt trong phát triển kinh tế và thơng mại. Khi các nền kinh tế bắt đầu phát
triển, các dịch vụ hạ tầng cơ sở này của từng nớc thờng phát triển ở mức từ 7% đến 10% GDP. Sau đó, khi nền kinh tế tiếp tục phát triển, các
dịch vụ kinh doanh và tài chính tăng theo và tạo ra từ 15% đến 30% GDP.
3
1.1.2 Các doanh nghiệp dịch vụ góp phần tạo việc làm
Đồng thời với sự tăng trởng sản lợng dịch vụ, các công ty dịch vụ đã tạo ra một khối lợng lớn việc làm, chiếm tới
hơn 90% việc làm mới trên toàn cầu kể từ giữa thập kỷ 1990. Đóng vai trò quan trọng đặc biệt trong các nền kinh tế
chuyển đổi và đang phát triển, các công ty dịch vụ đã tạo ra nhiều loại hình công việc khác nhau rất phù hợp cho
các cử nhân đại học (do vậy, xuất phát của từ chảy máu chất xám là từ các thị trờng kém phát triển hơn) cũng
nh đối với những ngời tốt nghiệp phổ thông - những ngời thờng gặp khó khăn khi tìm kiếm việc làm, kể cả phụ
nữ. Trong số các nền kinh tế này, số lợng các nền kinh tế có tỷ trọng việc làm do khu vực dịch vụ tạo ra lớn hơn tỷ
trọng việc làm trong khu vực công nghiệp đang tăng lên.
1.1.3 Dịch vụ góp phần quan trọng trong xoá đói giảm nghèo và phát triển bền vững
Chất lợng các dịch vụ cuộc sống (nh giáo dục và y tế) với sự trợ giúp của ngành điện lực có vai trò vô cùng quan trọng
trong việc cải thiện cuộc sống của ngời nghèo. Hơn nữa, do nhiều doanh nghiệp dịch vụ có thể khởi nghiệp với một
lợng vốn rất nhỏ (điều này khác với khu vực chế tạo), các ngành dịch vụ tạo cơ hội cho những ngời với các nguồn lực
nhỏ có thể tự kinh doanh và kinh doanh có hiệu quả, đặc biệt là đối với phụ nữ. Trong bất cứ một nền kinh tế nào, phần
lớn các doanh nghiệp dịch vụ đều là những doanh nghiệp nhỏ hay rất nhỏ. Về mặt môi trờng, nhiều ngành dịch vụ là
những ngành công nghiệp sạch và do đó giúp tránh đợc các căn bệnh do ô nhiễm môi trờng gây ra và tránh huỷ hoại
môi trờng.
Tập trung tăng trởng khu vực dịch vụ còn có một lợi ích tiềm tàng khác là khả năng nhân rộng các lợi ích phát triển kinh
tế trên toàn bộ nền kinh tế. Doanh nghiệp dịch vụ có năng lực cạnh tranh có thể phát triển ngay cả trong những đơn vị
nhỏ nhất của cộng đồng một khi có hạ tầng cơ sở viễn thông phù hợp. Sự nở rộ của các doanh nghiệp dịch vụ (kèm theo
các cơ hội việc làm) tại cộng đồng nông thôn có thể giúp hạn chế sự di c ra khu vực thành thị và duy trì sự ổn định của
các cộng đồng nhỏ hơn.
1.2 Dịch vụ và Hội nhập quốc tế
1.2.1 Xuất khẩu dịch vụ đang chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong thơng mại thế giới
Khi Hiệp định chung về thơng mại dịch vụ (GATS) bắt đầu có hiệu lực năm 1995, thơng mại dịch vụ trên thế giới
chỉ đạt hơn 1.200 tỷ USD. Đến năm 2003, thơng mại dịch vụ thế giới đã tăng lên hơn 1.800 tỷ USD, chiếm 20%
tổng giá trị thơng mại thế giới. Bộ phận tăng trởng nhanh nhất trong thơng mại thế giới tiếp tục là khu vực các
dịch vụ khác - đó chính là nhóm các dịch vụ kinh doanh (kế toán, thiết kế công trình, t vấn, dịch vụ máy tính, R&D
v.v), các dịch vụ truyền thông, dịch vụ xây dựng, dịch vụ giáo dục và y tế, dịch vụ tài chính, và các dịch vụ giải
trí/văn hoá/thể thao. Ngày nay, ngành dịch vụ đang phát triển trong một môi trờng toàn cầu hoá cao độ.
1.2.2 Đầu t trực tiếp nớc ngoài vào khu vực dịch vụ cũng đang gia tăng
Vai trò của đầu t
trực tiếp nớc ngoài (FDI) trong khu vực dịch vụ khác với trong lĩnh vực chế tạo, với số lợng việc
làm tạo ra ít hơn và giá trị gia tăng cũng ít hơn. Sáp nhập và thôn tính (M&A) là những hình thức thâm nhập thị
trờng nhanh nhất và thực tiễn nhất. Đặc biệt, trong các dịch vụ kinh doanh, các hình thức đầu t phi cổ phần là
khá phổ biến - uỷ thác đặc quyền, hợp đồng quản lý, quan hệ đối tác, xây dựng-vận hành-chuyển giao (BOT), xây
dựng-chuyển giao-vận hành (BTO) Sự tăng trởng FDI dịch vụ ngày càng đợc tiếp sức bởi sức ép cạnh tranh ở
thị trờng trong nớc, dẫn đến việc các công ty xuyên quốc gia (TNCs) phải tìm kiếm các thị trờng mới và phát huy
lợi thế cạnh tranh của họ. Những điều kiện hấp dẫn các TNCs dịch vụ là: khả năng tiếp cận nguồn thông tin và cơ
sở hạ tầng vận tải tốt, các thể chế công nghiệp phát triển vững mạnh và nguồn nhân lực có kỹ năng với chi phí cạnh
tranh. Một xu hớng tăng trởng nữa là thuê ngoài hay tách rời một số chức năng dịch vụ nhất định để ký hợp
đồng với nớc ngoài. Sự tăng trởng của dòng FDI trong dịch vụ kinh doanh vào các nền kinh tế đang phát triển
trong tổng lợng vốn FDI từ 7% năm 1990 lên 38% năm 2002 là một ví dụ cụ thể của xu hớng thuê ngoài.
Các xu hớng phát triển kể trên đã khiến cho các công ty dịch vụ xuyên quốc gia chiếm tới 52% trong tốp 100 (Top
100) công ty lớn nhất trên thế giới tính theo doanh thu năm 2003. Các công ty này thậm chí còn vợt các nhà sản
xuất hàng hoá về mặt doanh thu, lợi nhuận, tài sản và vốn tự có tính theo đầu nhân công. Năm 2003, 52 công ty
hàng đầu trong các công ty xuyên quốc gia kinh doanh dịch vụ đều có mức doanh số cao hơn GDP của Việt Nam.
Điều này có nghĩa là, các doanh nghiệp dịch vụ của Việt Nam sẽ phải cạnh tranh với với các công ty dịch vụ xuyên
quốc gia khổng lồ khi tham gia hội nhập quốc tế. Trong số Top 100 công ty dịch vụ xuyên quốc gia trên thế giới,
một nửa có trụ sở tại châu á - Thái Bình Dơng, trong đó có một công ty của Trung Quốc. Kể từ năm 1996, Mỹ đã
tăng gần gấp đôi số lợng các công ty dịch vụ hàng đầu, còn Nhật Bản đã không còn chiếm vị trí chi phối ở khu vực
châu á - Thái Bình Dơng nữa. Năm 1996, 8 trong số 10 công ty dịch vụ lớn nhất là của Nhật Bản, còn năm 2003,
con số này chỉ là 1. Trong 7 năm qua, cơ cấu ngành nghề của Top 100 công ty dịch vụ lớn trên thế giới cũng đã có
4
nhiều thay đổi. Sự chi phối của các dịch vụ tài chính đã giảm xuống, còn các dịch vụ máy tính (Microsoft), giải trí,
sức khoẻ và bán lẻ đã nổi lên chiếm u thế.
1.2.3. Tự do hoá tiếp cận thị trờng cũng có thể có tác động tiêu cực tới các nền kinh tế đang phát triển
Khi các quốc gia bắt đầu đàm phám GATS, có mối lo ngại rằng tác động tổng thể của việc tự do hoá tiếp cận thị
trờng dịch vụ sẽ làm tăng thị phần của các nớc phát triển và đơng nhiên là giảm thị phần của các nớc đang
phát triển. Tiếc rằng, mối lo ngại đó là có cơ sở khi quan sát chiều hớng thơng mại kể từ khi GATS có hiệu lực
năm 1995. Số liệu thu thập đợc cho thấy sự tăng trởng liên tục của tỷ trọng các ngành dịch vụ trong tổng kim
ngạch xuất khẩu tại các nền kinh tế phát triển, đặc biệt là tốc độ tăng cao của nhóm các dịch vụ khác, đồng thời
cũng cho thấy chiều hớng ngợc lại tại các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi. Sau năm 1999, khi GATS
đã có hiệu lực đợc một vài năm, tốc độ tăng trởng xuất khẩu dịch vụ trung bình năm cũng đã tăng. Tại các nền
kinh tế chuyển đổi và đang phát triển, chỉ có ngành thơng mại hàng hoá và các dịch vụ liên quan tới vận tải đạt
đợc tốc độ tăng trởng hai chữ số. Còn tại các nền kinh tế phát triển, trong giai đoạn 1999-2003, tốc độ tăng
trởng của nhóm các dịch vụ khác cao gần gấp đôi tốc độ tăng chung của tổng kim ngạch xuất khẩu.
Xét về khía cạnh nhập khẩu, các nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển thờng nhập khẩu dịch vụ có giá trị gia
tăng thuộc nhóm các dịch vụ khác, còn các nền kinh tế phát triển lại nhập khẩu chủ yếu các dịch vụ có giá trị gia
tăng thấp thuộc nhóm này. Nhìn chung, tăng trởng cao nhất thuộc về nhóm các dịch vụ khác, song tốc độ nhập
khẩu bình quân thờng thấp hơn tốc độ tăng xuất khẩu bình quân. Những số liệu này ủng hộ nhận định rằng tự do
hoá thơng mại dịch vụ tại các nền kinh tế chuyển đổi và đang phát triển, cho dù muốn hay không, sẽ làm tăng
nhập khẩu, đặc biệt là thông qua hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài.
Môi trờng phát triển của khu vực dịch vụ đã thay đổi trong 5 năm qua với sự gia tăng các hiệp định thơng mại
song phơng và đa phơng mà nội dung cơ bản của chúng là tự do hoá tiếp cận thị trờng dịch vụ. Sự phát triển
tăng tốc của công nghệ thông tin và truyền thông đã làm cho việc cung cấp dịch vụ xuyên biên giới trở nên dễ dàng
hơn. Trong điều kiện đó, không thể chỉ đơn thuần tập trung phát triển khu vực dịch vụ trong nớc. Phát triển khu
vực dịch vụ trong nớc cần phải đợc đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đồng thời có tính đến cả các chuẩn mực
quốc tế về năng lực cạnh tranh. Để nền kinh tế tăng trởng và phát triển mạnh, khu vực dịch vụ cần phải có khả
năng cạnh tranh nhằm tránh cho các ngành công nghiệp của nền kinh tế đó không bị nhập khẩu đè bẹp.
Trong những năm vừa qua, các nền kinh tế đang trong quá trình gia nhập Tổ chức Th
ơng mại Thế giới (WTO)
(nh Việt Nam chẳng hạn) đang bị sức ép phải thực hiện những cam kết về tự do hoá tiếp cận thị trờng theo khuôn
khổ GATS. Chỉ có một số nớc đã gia nhập WTO vào năm 2000 là có đủ thời gian thấm thía tác động của quá trình
tự do hoá dịch vụ này
4
.
1.2.4 Khu vực dịch vụ sẽ tiếp tục tăng trởng
Tổ chức Thơng mại Thế giới (WTO) dự báo rằng thơng mại dịch vụ sẽ chiếm khoảng gần một nửa thơng mại thế
giới vào năm 2020. Hiện tại, nếu điều chỉnh các số liệu cán cân thanh toán để thể hiện sự hiện diện của các dịch
vụ khác và thơng mại dịch vụ của các chi nhánh nớc ngoài, khu vực dịch vụ đã có thể chiếm tới 36% tổng
thơng mại thế giới. Dới tác động của quá trình tự do hoá tiếp cận thị trờng đối với dịch vụ, tỷ trọng trong GDP
của khu vực này đợc dự báo sẽ tiếp tục tăng ở tất cả các nền kinh tế với trình độ phát triển khác nhau.
1.3 Những quan niệm sai lầm về Dịch vụ và những thách thức đối với các nớc đang phát triển
1.3.1 Các ngành dịch vụ đóng vai trò then chốt đối với sự phát triển của khu vực công nghiệp và nông nghiệp
Một nhận thức sai lầm khá phổ biến là nếu một nền kinh tế chuyển đổi hay đang phát triển khan hiếm nguồn lực thì
u tiên phát triển thờng là ngành công nghiệp chứ không phải ngành dịch vụ. Nhận thức sai lầm này dựa trên quan
điểm cho rằng dịch vụ chủ yếu là dịch vụ cho ngời tiêu dùng hay cho nhu cầu cuối cùng hay đó là các giao dịch
không bắt buộc. Trên thực tế, ít nhất một nửa số dịch vụ đợc tạo ra trong một nền kinh tế là các dịch vụ trung
gian, hay các dịch vụ đợc bán cho các doanh nghiệp khác. Nếu một nớc muốn có khu vực chế tạo cạnh tranh thì
cần một phạm vi rộng nguồn đầu vào là các dịch vụ có chất lợng cao, ví dụ giao thông vận tải, kho hàng, viễn
thông, ứng dụng kỹ thuật, thiết kế, nghiên cứu thị trờng, đóng gói Các dịch vụ đầu vào trở nên đặc biệt quan
trọng nếu muốn tăng giá trị gia tăng trong sản xuất công nghiệp và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành
định hớng xuất khẩu. Bên cạnh đó, các dịch vụ đầu vào nh đào tạo nhân viên cũng làm tăng hiệu quả sử dụng
các nguồn lực khan hiếm.
4
Số liệu hiện nay chỉ rằng, đối với các nớc nh Albania và Jordan, cán cân thơng mại dịch vụ có chiều hớng xấu đi kể từ khi gia nhập
WTO.
5
Một trong những thách thức khó khăn nhất là yêu cầu về chuyển đổi cơ cấu việc làm từ một nền kinh tế lấy nông
nghiệp làm cơ sở sang một nền kinh tế lấy dịch vụ làm cơ sở. Do đó, giáo dục và đào tạo các kỹ năng mềm là
thiết yếu trong tiến trình này. Nhng cũng quan trọng không kém là giá trị và vị thế liên quan tới các loại việc làm
khác nhau. Để thu hút ngời lao động vào quá trình đào tạo (lại) cho các công việc dịch vụ, cần xác lập vị trí cũng
nh tầm quan trọng của các việc làm đó trong cộng đồng cũng nh trong toàn bộ nền kinh tế.
1.3.2 Các nhà hoạch định chính sách cho rằng hoạt động dịch vụ ít có cơ hội xuất khẩu
Một nhận thức sai lầm khá phổ biến là các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi không có lợi thế so sánh trong
dịch vụ và xuất khẩu rất ít dịch vụ theo đúng nghĩa của nó. Trên thực tế, các nền kinh tế đang phát triển và chuyển
đổi là những nhà xuất khẩu dịch vụ tích cực. Nghiên cứu của Trung tâm Thơng mại Quốc tế (ITC), thuộc Hội nghị
về Thơng mại và Phát triển của Liên hiệp quốc/Tổ chức thơng mại thế giới (UNCTAD/WTO) cho thấy các nền
kinh tế đang phát triển và chuyển đổi đã xuất khẩu trung bình 68 loại hình dịch vụ tới 33 thị trờng khác nhau.
Khoảng hai phần ba lợng trao đổi thơng mại này đợc thực hiện với các nền kinh tế đang phát triển và chuyển
đổi khác. Một nhận thức sai lầm khá phổ biến nữa là cán cân thơng mại dịch vụ bị thâm hụt ở các nớc đang phát
triển là điều bình thờng. Trên thực tế, các nền kinh tế thị trờng phát triển có cán cân thơng mại dịch vụ thâm hụt
và các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi có cán cân thơng mại dịch vụ thặng d. Chiều hớng cán cân
thơng mại dịch vụ của một nền kinh tế liên quan tới chính sách phát triển kinh tế của một nớc hơn là liên quan
đến trình độ phát triển của nớc đó
5
.
1.3.3 Các nhà hoạch định chính sách cho rằng FDI là có lợi nhất trong quá trình tự do hoá
Thêm một nhận thức sai lầm nữa là các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi đợc lợi từ tự do hoá thơng mại
dịch vụ chủ yếu thông qua gia tăng thu hút đầu t nớc ngoài và xuất khẩu lao động chứ không phải thông qua tăng
cờng năng lực cạnh tranh của khu vực dịch vụ trong nớc. Điều quan trọng cần nhớ là bất kỳ nhà đầu t nớc ngoài
nào cũng sẽ cạnh tranh với các nhà cung cấp dịch vụ trong nớc và có khả năng làm suy yếu năng lực cạnh tranh của
họ trên các thị trờng khu vực và toàn cầu do nền tảng trong nớc còn nhỏ. Các nhà đầu t nớc ngoài có thể đem
vào nguồn vốn và chuyên môn rất cần thiết, và việc tự do hoá các điều kiện tiếp cận thị trờng có khả năng làm cho
nền kinh tế có sức hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu t nớc ngoài. Tuy nhiên, sức quyến rũ của thị trờng cũng bị ảnh
hởng bởi năng lực cạnh tranh của hạ tầng cơ sở viễn thông trong nớc và chất lợng các dịch vụ kinh doanh sẵn có.
Chi phí sản xuất sẽ giảm xuống nếu các dịch vụ trung gian chất lợng cao sẵn có trong nớc; nếu không, các nhà đầu
t nớc ngoài sẽ phải đầu t vào để cung cấp dịch vụ cho chính bản thân họ. Do vậy, nếu các điều kiện tiếp cận thị
trờng là nh nhau, những nền kinh tế hớng trọng tâm vào phát triển khu vực dịch vụ quốc gia chắc chắn sẽ thu đợc
lợi từ đầu t nớc ngoài.
Trong các nền kinh tế đang phát triển hoặc chuyển đổi, đầu t trực tiếp nớc ngoài về dịch vụ ẩn chứa một số chi phí
tiềm tàng. Vai trò chi phối của các công ty dịch vụ nớc ngoài lớn có khả năng dẫn tới các hành vi độc quyền đi kèm
với việc tăng giá cả, kiểm soát các hoạt động văn hoá làm tổn hại đến nền văn hoá dân tộc, làm phá sản các nhà
cung cấp địa phơng, thuê lao động nội địa với mức lơng thấp và để thực hiện những công việc kỹ năng thấp. Đồng
thời, việc sử dụng các nhà cung cấp nớc ngoài (nhập khẩu dịch vụ) và chuyển lợi nhuận ra nớc ngoài cũng có thể
gây ảnh hởng tiêu cực tới cán cân thanh toán. Đáng lo ngại hơn cả là có thể có những tác động tiêu cực đến ng
ời
nghèo. Nếu không có sự quan tâm thích đáng, khoảng cách trong khả năng tiếp cận cũng nh chi trả các dịch vụ thiết
yếu sẽ rộng hơn, và do các nhà cung cấp dịch vụ nớc ngoài chủ yếu phục vụ một bộ phận dân chúng giàu có, sẽ có
sự lệch hớng trong việc sử dụng các nguồn quỹ chính phủ để hỗ trợ sự tiếp cận của ngời nghèo. Tại các các nớc
đang phát triển và chuyển đổi, ngân hàng là khu vực có xu hớng bị chi phối bởi các ngân hàng nớc ngoài, do vậy
vấn đề đặt ra là phải có sự kiểm soát những dịch vụ có tầm quan trọng chiến lợc.
Để có thể thu đợc lợi nhuận từ FDI dịch vụ, tiền đề quan trọng nhất là một khuôn khổ điều tiết vững mạnh để bảo
đảm các tác động tích cực đợc nhân lên trong nền kinh tế trong nớc. Điều quan trọng không kém là các nền kinh tế
đang phát triển và chuyển đổi cần phải biết tận dụng lợi thế, các quyền hạn của họ trong khuôn khổ GATS để áp đặt
các tiêu chí hoạt động lên các nhà đầu t nớc ngoài. Chẳng hạn nh các yêu cầu về chuyển giao công nghệ (cứng
và mềm); thuê mớn, đào tạo và phát triển nhân lực nội địa; sử dụng các nhà cung cấp sở tại và các điều kiện làm
việc lành mạnh. Một lựa chọn nữa là yêu cầu về xuất khẩu nhằm bù đắp cho bất kỳ tác động tiêu cực nào đến cán cân
thanh toán. Điều quan trọng là cần có một cơ chế để bảo đảm rằng hoặc chính phủ hoặc các công ty t nhân lớn sẽ
cung cấp các dịch vụ thiết yếu với những điều kiện tiếp cận rộng rãi. Một lựa chọn nữa là yêu cầu thanh toán vào trong
một quỹ dịch vụ chung.
5
Ví dụ, nếu một nền kinh tế không có đội tàu biển quốc gia, thì khoản mục vận tải có thể sẽ là thâm hụt. Nếu một nền kinh tế đã phát triển
một khu vực dịch vụ trung gian mạnh, thì khoản mục dịch vụ khác có thể sẽ thặng d. Một số ví dụ điển hình nh Bungari, Látvia, Lít-va,
Rumani chỉ ra rằng các nền kinh tế đang phát triển hay chuyển đổi có thể có thặng d cán cân thơng mại dịch vụ trong khi tại một số các
nớc phát triển (ốtxtrâylia, Nhật Bản) cán cân thơng mại dịch vụ lại thâm hụt.
6
1.4 Khắc phục những yếu tố cản trở sự phát triển khu vực dịch vụ
1.4.1 Phơng thức sản xuất tự làm kìm hãm sự phát triển của khu vực dịch vụ
Việc thực hiện hình thức mua ngoài (nghĩa là mua các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh từ nhà cung cấp ngoài công ty)
cũng là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng một nền kinh tế có sức cạnh tranh. Tại các doanh nghiệp nhỏ
và phi chính thức, các đầu vào dịch vụ thờng là tự cung cấp
6
. Chất lợng cung ứng dịch vụ, với vai trò là các đầu
vào tạo ra năng lực cạnh tranh, luôn đợc các doanh nghiệp t nhân có năng lực cạnh tranh quan tâm. Nếu các
dịch vụ có chất lợng cạnh tranh không sẵn có, có thể các doanh nghiệp sẽ phải tự làm các dịch vụ đó ngay cả
khi quy mô doanh nghiệp đã trở nên lớn và phức tạp. Hoặc là họ có thể nhập khẩu dịch vụ từ các nhà cung ứng
nớc ngoài. Tác động của phơng thức tự làm hoặc nhập khẩu các dịch vụ sẽ làm giảm cơ hội của các nhà cung
ứng dịch vụ trong nớc và làm cho các dịch vụ chất lợng cao khó có cơ hội phát triển. Một tác động tiêu cực nữa là
không đủ nhu cầu từ thị trờng để chuyên môn hoá quá trình cung ứng dịch vụ.
Cần lu ý rằng quá trình thuê nhà cung ứng bên ngoài có thể bị bóp méo bởi phơng thức tự làm các dịch vụ của
các doanh nghiệp nhà nớc và/hay các chơng trình trợ cấp của chính phủ hay nhà tài trợ. Tại các nền kinh tế nh
Việt Nam, các doanh nghiệp nhà nớc thờng tự thực hiện các dịch vụ hỗ trợ kinh doanh cần thiết hoặc thuê các
doanh nghiệp nhà nớc khác, và điều đó đã khiến cho chính phủ mất khả năng thúc đẩy sự phát triển của các
ngành dịch vụ hỗ trợ kinh doanh thông qua ký hợp đồng cung ứng với các doanh nghiệp t nhân. Các khoản trợ cấp
gây méo mó thị trờng vì tạo ra cạnh tranh giả tạo dới hình thức cung ứng dịch vụ hỗ trợ kinh doanh giá rẻ hoặc
miễn phí dới dạng các dự án hỗ trợ phát triển với mức phí thấp hơn nhiều mức hoà vốn của các doanh nghiệp t
nhân.
1.4.2 Mức cầu dịch vụ nội địa thấp làm tăng sự cần thiết phải mở rộng thị trờng xuất khẩu
Một trong những thách thức hàng đầu trong việc thúc đẩy tăng trởng các ngành dịch vụ cạnh tranh là thiếu cầu nội
địa về các dịch vụ có chất lợng. Nếu khách hàng không quen thuộc với các dịch vụ chất lợng quốc tế cũng nh
những lợi ích có thể có đợc từ chất lợng đó, họ sẽ không có khả năng phân biệt dịch vụ chất lợng cao với dịch
vụ chất lợng thấp, và sẽ không sẵn sàng chi trả cho dịch vụ chất lợng cao. Nếu không có các dịch vụ cạnh tranh
quốc tế làm đầu vào, các nhà xuất khẩu sẽ lựa chọn một trong ba hình thức: a) sử dụng các dịch vụ do họ tự tạo ra,
theo đó, họ phải sử dụng nguồn lực khan hiếm để thực hiện chức năng không phải là sở trờng của họ; b) mua dịch
vụ chất lợng thấp trong nớc, và điều này sẽ làm tổn hại đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu của họ;
hoặc c) nhập khẩu dịch vụ đầu vào với những tác động tiêu cực lên cán cân thanh toán quốc gia.
Trong điều kiện nguồn nhân lực và vật lực hạn chế ở nhiều nớc đang phát triển, nhiều ng
ời có thể hoài nghi về
tính khả thi của việc thúc đẩy tăng trởng dịch vụ. Nếu chỉ xem xét nền kinh tế trong nớc thì triển vọng quả là ảm
đạm. Giải pháp nằm ở các thị trờng xuất khẩu, nơi ngời nớc ngoài đã quen với các tiêu chuẩn chất lợng quốc
tế và sẽ chi trả cho các dịch vụ chất lợng cao. May mắn là, nhiều dịch vụ không yêu cầu sự đầu t tài sản cố định
để có thể khởi nghiệp. Các công ty dịch vụ hoàn toàn có khả năng bắt đầu nh là những ngời chơi nhỏ, cung cấp
dịch vụ cho các công ty nớc ngoài ngay trên thị trờng nớc họ (xuất khẩu theo Phơng thức 2)
7
và các thị trờng
khu vực xung quanh.
Một nhận thức sai lầm nữa có liên quan là, nếu nhu cầu nội địa về dịch vụ thấp, việc tập trung vào phát triển dịch vụ
sẽ dẫn đến thất bại. Đúng là sẽ dễ dàng phát triển các ngành dịch vụ trung gian khi cầu nội địa lớn. Tuy vậy, xét
trong bối cảnh hội nhập quốc tế, các công ty dịch vụ đều có cơ hội đợc tiếp cận với các thị trờng xuất khẩu. Một
trong những chiến lợc tốt nhất để phát triển các ngành dịch vụ trung gian cạnh tranh với vai trò là đầu vào quan
trọng cho sản xuất công nghiệp là chiến lợc xuất khẩu các dịch vụ đó. Chỉ bằng cách tham gia cạnh tranh trên thị
trờng quốc tế và khu vực, các nhà cung cấp dịch vụ mới thích ứng nhanh chóng với các tiêu chuẩn chất lợng
quốc tế, và chất lợng của dịch vụ trong thị trờng nội địa mới đợc cải thiện. Do ngành dịch vụ trung gian tạo ra
đầu vào có giá trị gia tăng quan trọng cho sản xuất công nghiệp, sự tăng trởng thấp của các ngành dịch vụ trung
gian có thể dẫn đến một nền sản xuất có giá trị gia tăng thấp và thiếu năng lực cạnh tranh xuất khẩu.
6
Ví dụ, ngời chủ sở hữu hay họ hàng sẽ làm công việc sổ sách, vận tải hàng hoá hay tự suy đoán về chiều hớng của thị trờng. Khi nền
kinh tế phát triển chín muồi và mức độ cạnh tranh tăng, các doanh nghiệp bắt đầu thuê bên ngoài (Externalization) làm những dịch vụ
không phải sở trờng của mình ví dụ họ mua dịch vu kế toán, dịch vụ vận tải hay dịch vụ nghiên cứu thị trờng. ở những nơi không có sẵn
các dịch vụ kinh doanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) sẽ buộc phải tăng tổng chi phí bằng cách thuê thêm nhân viên (thờng là những
ngời có kỹ năng tổng hợp, không phải chuyên sâu) để làm những công việc dịch vụ này mà cũng có thể là không làm đợc.
7
Theo nh GATS của tổ chức WTO, thơng mại dịch vụ đợc thực hiện theo bốn phơng thức cung: Phơng thức 1 - Xuyên biên giới, dịch
vụ đợc cung cấp xuyên biên giới; Phơng thức 2 - Tiêu dùng ngoài nớc, ngời tiêu dùng di chuyển ra nớc ngoài; Phơng thức 3 - Hiện
diện thơng mại, các nhà cung cấp dịch vụ thiết lập văn phòng ở nớc ngoài; và Phơng thức 4 - Hiện diện thể nhân, các nhà cung cấp
dịch vụ di chuyển tạm thời ra nớc ngoài.
7
1.4.3 Những chính sách không phù hợp làm méo mó sự phát triển của khu vực dịch vụ
Các ngành dịch vụ có thể phát triển với sự hỗ trợ hoặc không có sự hỗ trợ của chính phủ. Bản chất và mục tiêu của
hỗ trợ chính sách phụ thuộc vào nhận thức chính trị về tầm quan trọng của lĩnh vực dịch vụ. Khi dịch vụ đợc coi là
phi sản xuất, những biện pháp không khuyến khích nh các loại thuế cao chắc chắn sẽ xuất hiện. Chính phủ có
thể bóp méo sự phát triển bằng cách duy trì một phạm vi rộng các dịch vụ do chính phủ hay do các doanh nghiệp
thuộc sở hữu nhà nớc độc quyền cung cấp hay yêu cầu mua dịch vụ từ các doanh nghiệp nhà nớc, hoặc sẽ áp
dụng các biện pháp khuyến khích các nhà đầu t dịch vụ nớc ngoài, gây bất lợi cho các nhà cung cấp dịch vụ nội
địa. Xét từ góc độ tự do hoá thơng mại, chính phủ của nhiều nớc đang phát triển không nhận thức đợc rằng, các
doanh nghiệp trong nớc có năng lực cạnh tranh đã xuất khẩu dịch vụ và do đó cho rằng khu vực dịch vụ cần đợc
thúc đẩy bởi các nhà đầu t nớc ngoài.
1.5 Chính sách khắc phục và những thách thức về thể chế: Một số bài học cho Việt Nam
1.5.1 Sự điều tiết chặt chẽ khu vực dịch vụ đóng vai trò then chốt đối với năng lực cạnh tranh
Một nhận thức sai lầm nữa là tự do hoá thơng mại dịch vụ đồng nghĩa với việc thả nổi khu vực dịch vụ. Trên thực
tế, khó có thể yêu cầu chính phủ làm tròn bổn phận bảo vệ ngời tiêu dùng trừ phi có một khuôn khổ điều tiết phù
hợp và minh bạch. Báo cáo Thơng mại thế giới 2004 của WTO gần đây đã nêu cụ thể các mối liên kết giữa môi
trờng chính sách trong nớc và thơng mại quốc tế. Thực ra, vấn đề đặt ra ở nhiều nớc đang phát triển và
chuyển đổi là làm thế nào để tăng cờng môi trờng luật pháp trong nớc nhằm hỗ trợ cạnh tranh. Cần xem xét lại
và cải cách khuôn khổ điều tiết, ở mức độ tối thiểu đó là chính sách cạnh tranh, cấp phép cho các nhà chuyên môn,
tạo lập một sân chơi bình đẳng cho các nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ trên góc độ mức thuế và khuyến khích
thuế, và khả năng giám sát và thực hiện các quy chế một khi chúng đã đợc ban hành.
1.5.2 Năng lực cạnh tranh đòi hỏi những chiến lợc phát triển cụ thể
Khi một nền kinh tế nh Việt Nam chuyển dịch từ các ngành dịch vụ đợc bảo hộ và mua bán theo chỉ đạo sang
một nền kinh tế mở, cần xem xét 4 yếu tố: Thứ nhất, các chức năng sản xuất và kiểm tra chất lợng chủ yếu trong
một doanh nghiệp dịch vụ là chức năng của nguồn nhân lực. Đội ngũ làm việc trong doanh nghiệp là những ngời
tạo ra dịch vụ, thờng xuyên giao tiếp với khách hàng. Điều này có nghĩa là việc đào tạo thờng xuyên đội ngũ
nhân viên, kể cả các kỹ năng kỹ thuật cũng nh kỹ năng giao tiếp với khách hàng, đóng vai trò rất quan trọng đối
với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
8
Thứ hai, bảo đảm chất lợng dịch vụ là vấn đề sống còn đối với năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ nhng thực hiện đợc điều này lại là một thách thức lớn. Phần lớn các dịch vụ đều không thể kiểm tra
đợc trớc khi mua - bởi ngời mua hay ngời giám sát - do chúng không đợc sản xuất ra trớc khi ký kết các thoả
thuận mua bán. Do đó, cách bảo đảm tốt nhất (ví dụ trong ISO 9001: 2000) là thông qua giám sát quá trình sản
xuất chứ không phải là bằng việc kiểm tra sản phẩm cuối cùng. Các công ty dịch vụ thành công thờng lu giữ hồ
sơ cẩn thận về yêu cầu công việc đối với từng nhân viên của họ và phạm vi mà họ có thể đa ra quyết định khi tiếp
xúc với khách hành. Một biện pháp kiểm soát chất lợng nữa là thông qua giấy phép hay cấp chứng nhận độ tín
nhiệm đối với nhà cung cấp dịch vụ, đặc biệt là yêu cầu đào tạo chuyên nghiệp thờng xuyên.
Thứ ba, công tác tiếp thị dịch vụ về cơ bản chính là bán lời hứa cung cấp dịch vụ trong tơng lai, do vậy, năng lực
cạnh tranh của các dịch vụ của Việt Nam phần nào chính là hồ sơ về Việt Nam với t cách là nhà cung cấp dịch vụ.
Các khách hàng tiềm tàng thờng quản lý rủi ro mua bán trong giao dịch với các nhà cung cấp dịch vụ mới bằng
cách hỏi những ngời giới thiệu hay thu thập thông tin về những thành công hay thất bại trớc đó của những nhà
cung cấp dịch vụ này. Điều này có nghĩa là các cơ chế xúc tiến thơng mại khác nhau trở nên rất quan trọng
chẳng hạn nh mức độ công khai/phổ biến từ phía chính phủ về các dịch vụ thành công và sáng tạo, các thoả
thuận hợp tác giữa các hiệp hội dịch vụ Việt Nam với các hiệp hội tơng tự ở nớc ngoài, thiết lập các quan hệ đối
tác với các nhà cung cấp dịch vụ nớc ngoài có danh tiếng Một trong những thách thức khi phát triển khu vực dịch
vụ là xác định lĩnh vực chủ đạo - nh ấn Độ đã làm với lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT) - để xây dựng và thúc
đẩy sự hoàn hảo.
8
Các nghiên cứu đã cho thấy rằng những kỹ năng quan trọng nhất của các doanh nghiệp dịch vụ chính là các kỹ năng mềm, ví dụ nh khả
năng giao tiếp giữa ngời với ngời, đánh giá nhu cầu, các kỹ năng thơng lợng, các kỹ năng giải quyết vấn đề, các kỹ năng quan hệ
nhóm, và khả năng thiết kế và điều chỉnh các dịch vụ. Các doanh nghiệp dịch vụ thành công là những doanh nghiệp đầu t một khoản
tơng đơng ít nhất 5% quỹ lơng vào đào tạo đội ngũ nhân viên ở tất cả các cấp độ trong doanh nghiệp, đặc biệt là đối với những nhân
viên có quan hệ trực tiếp với khách hàng. Sự thành công này phụ thuộc vào việc phải bảo đảm rằng đội ngũ nhân viên phải nhận thức đợc
và phải biết cách đạt đợc những tiêu chuẩn quốc tế đối với ngành dịch vụ của họ. Một trong những thách thức chuyển đổi sẽ là làm thế
nào để đội ngũ nhân viên tiếp cận với dịch vụ chất lợng quốc tế để họ nhận biết đợc những khoảng cách giữa mức độ dịch vụ mà họ
cung ứng với những kỳ vọng của thị trờng toàn cầu.
8
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét