Thứ Tư, 22 tháng 1, 2014

Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của việt nam vào các thị trường phi hạn ngạch.doc

Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
nước nhập khẩu hàng may mặc lớn thứ hai trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên
việc mua sắm của người Nhật Bản đối với các sản phẩm nói chung và các sản
phẩm may mặc nói riêng đều khác biệt với các thị trường như Mỹ và EU hay
bất kỳ một thị trường nào khác. Một trong những nguyên nhân là Nhật Bản
đang đối mặt với sự thay đổi giữa các nhóm tuổi trong xã hội theo hướng già
hoá dân số tương đối nhanh chóng. Theo một nghiên cứu về xu hướng thay
đổi dân số Nhật Bản giai đoạn 1990-2025 cho thấy: năm 2000 nhóm tuổi từ
15-29 là 16 triệu người thì tới năm 2010 sẽ giảm xuống còn 12,3 triệu người
và đến năm 2025 chỉ còn 10,8 triệu người. Số dân có độ tuổi từ 30-59 cũng có
mức giảm đáng kể qua các năm như năm 2000 có 42,7 triệu người, đến năm
2010 giảm xuống 42,2 triệu người, năm 2025 độ tuổi này chỉ còn 38,7 triệu
người. Trong khi đó nhóm dân số có độ tuổi từ 60-64 lại tăng lên. Năm 2000
có 4,4 triệu người nhưng đến năm 2025 sẽ tăng lên 5,3 triệu người, nhóm dân
số có độ tuổi trên 65 cũng có mức tăng như vậy. (Tạp chí công nghiệp Việt
Nam số 12/2003)
Xu hướng già hoá dân số của Nhật Bản sẽ làm thay đổi mạnh mẽ cách
thức tiêu dùng hàng hoá, sự lựa chọn, sở thích, thói quen, tâm lý tiêu dùng,
đồng thời nó còn tác động đến mức chi tiêu của người Nhật Bản. Nếu như
trước đây, vào thập niên 80, các gia đình Nhật Bản đoạt ngôi vô địch về tỷ lệ
gửi tiền tiết kiệm so với thu nhập nhưng giờ đây tỷ lệ này chỉ tương đương với
người Mỹ vốn quen thói tiêu hoang. Theo số liệu mới nhất của chính quyền
Nhật Bản cho thấy tỷ lệ tiền tiết kiệm so với thu nhập của các hộ gia đình
người Nhật giảm từ 23% năm 1975 còn 14% năm 1990; 6,9% năm 2001; 4%
năm 2002 và 2% vào quý I năm 2003 (Tạp chí công nghiệp Việt Nam số
31/2003). Tỷ lệ này thậm chí còn thấp hơn cả tỷ lệ tiết kiệm 3,5% của người
Mỹ và thấp hơn nhiều so với tỷ lệ 10% ở Liên minh Châu Âu (EU). Sự giảm
sút về tỷ lệ tiền tiết kiệm khiến cho mức chi tiêu so với thu nhập của người
5
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
Nhật Bản tăng lên. Do vậy sẽ không hề ngạc nhiên khi kết quả một cuộc điều
tra về người tiêu dùng Nhật Bản cách đây hai năm về tiêu chí mà họ quan tâm
nhất khi chọn mua hàng may mặc đã cho thấy: giữa hai tiêu chí là giá cả và
chất lượng, người tiêu dùng Nhật Bản có xu hướng ưu tiên giá cả hàng may
mặc hơn chất lượng hàng hoá một cách tương đối.
Vậy nhưng theo kết quả một nghiên cứu mới đây của các chuyên gia tổ
chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) cho biết, có đến 42% người tiêu
dùng chọn mua hàng may mặc dựa theo kiểu dáng; 25% khách hàng lựa chọn
theo chất lượng; 21% lựa chọn theo nhãn mác; 12% khách hàng lựa chọn theo
giá cả (Tạp chí công nghiệp Việt Nam số 12/2003). Qua những con số trên
chúng ta có thể thấy rằng đã có một sự thay đổi trong xu hướng tiêu dùng của
người Nhật Bản một cách tương đối, từ quan tâm đến giá cả giờ chuyển sang
quan tâm nhiều hơn đến chất lượng mặc dù từ trước đến nay người Nhật Bản
vẫn luôn khắt khe và khó tính thậm chí còn được đánh giá là thị trường khó
tính nhất thế giới. Đặc biệt đối với hàng dệt may, người Nhật chú ý đến từng
đường kim mũi chỉ, sản phẩm không được có sai sót gì dù là nhỏ nhất.
Vậy là với mức chi tiêu "thoáng" hơn, giờ đây người Nhật Bản sẵn sàng
trả giá cao để mua những sản phẩm chất lượng tốt, tính thời trang thẩm mỹ
cao. Sản phẩm còn phải thể hiện được những nét đặc trưng của nơi sản xuất về
truyền thống văn hoá, nguyên vật liệu bởi họ quan niệm rằng một sản phẩm
may mặc không chỉ đáp ứng nhu cầu thông thường là để mặc, mà nó còn là
một sản phẩm nghệ thuật làm đẹp cho người sử dụng. Họ trở nên tin tưởng và
dễ dàng bỏ tiền ra mua những sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng của Nhật
Bản như tiêu chuẩn công nghiệp Nhật (JIS) hoặc các tiêu chuẩn quốc tế như
ISO 9000, ISO 14000, SA 8000. Người tiêu dùng Nhật Bản cũng sẵn sàng từ
chối những sản phẩm làm theo kiểu dáng "hàng nhái" cho dù bán với giá rẻ
hoặc những sản phẩm có những vết xước, vết bẩn trên bao bì, những sợi chỉ
6
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
sợi bông còn sót lại trên bề mặt sản phẩm, kể cả sản phẩm sắp xếp không ngăn
nắp đẹp mắt, bị xô lệch. Đây có thể sẽ là những gợi ý để doanh nghiệp Việt
Nam tham khảo khi muốn đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào Nhật Bản vì
hiện tại nhiều chuyên gia kinh tế Nhật Bản đều có chung một nhận xét về hàng
may mặc xuất khẩu của Việt Nam: mặc dù hàng may mặc Việt Nam đạt chất
lượng tốt nhưng không đồng đều, không ổn định, kiểu dáng mẫu mã rất nghèo
nàn và chưa thể hiện được những yếu tố đặc trưng của sản phẩm may mặc
Việt Nam.
Ngoài ra, mức tiêu thụ hàng may mặc của người dân Nhật Bản còn chịu
ảnh hưởng bởi sự biến động của giá đồng Yên. Còn nhớ cuộc khủng hoảng tài
chính- tiền tệ năm 98 đã làm cho nền kinh tế nước này bị ảnh hưởng nặng nề,
kinh tế suy thoái, sức mua giảm sút. Nhưng khi nền kinh tế nước này có dấu
hiệu phục hồi, đồng Yên tăng giá, giá hàng hóa giảm, do vậy người tiêu dùng
Nhật Bản thấy không cần phải tiết kiệm để giữ giá trị tài sản thực.
Mức tiêu thụ hàng may mặc của người Nhật
Đơn vị: triệu Yên
Chủng loại 1997 1998 1999 2000 2001
Hàng dệt kim 1.176.768 1.155.672 1.024.614 1.078.446 1.055.324
Hàng dệt thoi 1.638.039 1.565.785 1.372.379 1.500.833 1.498.793
Tổng 2.814.806 2.721.457 2.396.994 2.579.279 2.554.117
(Nguồn: Báocáo của JETRO)
Qua bảng số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy dấu hiệu phục hồi của
kinh tế Nhật Bản qua mức tăng của năm 2000 so với năm 1999. Tuy nhiên đến
năm 2001 kinh tế Nhật Bản cũng như nhiều nền kinh tế lớn khác như Mỹ đều
bị tác động bởi vụ khủng bố 11/9 nhưng sự suy giảm mức tiêu thụ của người
7
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
dân Nhật Bản không quá nhiều. Vậy nên chúng ta hãy tiếp tục tin tưởng vào
triển vọng sáng sủa của kinh tế Nhật Bản thời gian tới.
1.2 Cơ cấu tiêu thụ các sản phẩm dệt may
Nhật Bản là thị trường nhập khẩu hàng dệt may lớn trên thế giới đồng
thời cũng là thị trường tiêu thụ rất nhiều hàng dệt may. Nhìn chung hàng dệt
may được tiêu thụ có thể phân thành hai nhóm chính nếu căn cứ theo phương
thức dệt là hàng dệt kim và hàng dệt thoi. Trong đó hàng dệt kim thường
chiếm tới 70% tổng khối lượng nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản.
Trong nhóm hàng dệt kim, những mặt hàng được người Nhật quan tâm
thường là các loại áo len, áo khoác nam, áo khoác nữ, sơ mi, quần áo trẻ em,
găng tay, bít tất, áo gile, T.shirt, quần áo dệt kim, quần áo thể thao, áo jacket.
Trong đó hàng dệt kim với chất liệu là len hoặc cotton được ưa chuộng hơn cả.
Bên cạnh đó, hàng dệt thoi mà chủ yếu là lụa tơ tằm, các loại áo sơ mi dệt
thoi chất liệu bông, áo blouse, đồ lót, váy làm từ chất liệu tơ tằm cũng được
người Nhật Bản yêu thích.
1.3. Mức tự cung đảm bảo
Là nước nhập khẩu hàng dệt may lớn thứ hai trên thế giới, khối lượng
nhập khẩu hàng may mặc của Nhật Bản tăng nhanh qua các năm. Mức nhập
khẩu có chững lại khi nền kinh tế Nhật Bản lâm vào cuộc khủng hoảng tài
chính-tiền tệ 1997-1998. Nhưng kể từ sau khi nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi
kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Nhật đang tăng trở lại. Ngược với xu
hướng nhập khẩu ngày càng nhiều, hiện nay mức sản xuất hàng dệt may trong
nước của Nhật Bản ngày một suy giảm, nhất là từ năm 1992 cả về mặt giá trị
và số lượng.
Một trong nguyên nhân chủ yếu khiến cho việc sản xuất tại thị trường
nội địa không được mở rộng là do sự suy giảm sức mua trên thị trường, áp lực
8
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
của nền kinh tế giảm phát những năm vừa qua, đơn giá sản phẩm bị hạ xuống
một cách đáng kể qua từng năm. Để đáp ứng đòi hỏi hạ giá bán hàng hoá, các
nhà bán lẻ đã buộc phải bán hàng hoá với giá rẻ, dẫn tới việc giảm tỷ suất lợi
nhuận trong ngành dệt may Nhật Bản. Và hệ quả tất yếu là các nhà sản xuất
hàng dệt may và các hãng buôn đã chuyển hoạt động sản xuất ra nước ngoài
nhằm đối phó với tình hình này.
Trong 5- 10 năm qua việc chuyển hoạt động sản xuất hàng dệt may ra
nước ngoài đã phát triển rất nhanh mà điểm đến thường là những nước đang
phát triển rất gần với Nhật Bản. Đầu tiên là sự chuyển dịch sang Hàn Quốc và
Đài Loan. Tiếp đó là thị trường Trung Quốc và thị trường Inđônêxia, hai trong
số nhiều nước thuộc khu vực Đông Á và Đông Nam Á với nguồn nguyên phụ
liệu dồi dào, nguồn lao động phong phú với giá tương đối rẻ. Hiện nay Trung
Quốc được xem là một "cơ sở" sản xuất lớn và là nguồn nhập khẩu quan trọng
của Nhật Bản.
Hiện tại mức sản xuất trong nước của Nhật Bản chỉ chiếm trên dưới 30%
tổng lượng tiêu thụ hàng dệt may của thị trường nội địa. Xu hướng này sẽ
được thể hiện rõ hơn qua bảng số liệu dưới đây.
Năng lực sản xuất nội địa
(Đơn vị:triệu Yên)
Chủng loại 1997 1998 1999 2000 2001
Hàng dệt kim 415.602 381.422 314.742 280.585 211.124
Hàng dệt thoi 660.404 585.595 484.036 502.190 377.956
Nguồn:Báo cáo của JETRO
Qua bảng số liệu trên có thể thấy rằng mức tự cung trong nước cả hai loại
hàng dệt kim và dệt thoi đều giảm nhưng hàng dệt kim giảm nhanh hơn hàng
9
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
dệt thoi từ năm 1998, hàng dệt thoi giảm nhưng tốc độ giảm tương đối ổn
định.
Nhưng việc chuyển sản xuất ra nước ngoài với nhịp độ nhanh trong 5-10
năm trở lại đây đã tác động xấu đến thị trường nội địa Nhật Bản. Thậm chí tại
Nhật Bản đã có nhiều đánh giá lại là xét cho cùng sản phẩm mà người tiêu
dùng Nhật Bản quan tâm nhiều nhất lại không có sẵn cho họ. Có thể việc
chuyển sản xuất hàng dệt may ra nước ngoài những năm tới sẽ không còn
nhanh và nhiều như trước nữa.
1.4. Nhu cầu nhập khẩu

Với mức tự cung đảm bảo chỉ đáp ứng được khoảng 30% tổng mức tiêu
thụ hàng dệt may trên thị trường nội địa nên kim ngạch nhập khẩu của Nhật
Bản thường rất lớn cả về mặt giá trị và khối lượng, chiếm xấp xỉ 70% tổng cầu
của thị trường đối với cả hai loại là hàng dệt kim và hàng dệt thoi. Một nguyên
nhân mà mục 1.3 đã nêu, đó là do xu hướng chuyển sản xuất ra nước ngoài
của các công ty Nhật Bản nhằm đối phó với tình trạng giảm tỷ suất lợi nhuận
trong ngành dệt may. Hình thức mà các công ty này hoạt động dựa trên sự liên
doanh liên kết với các công ty Trung Quốc. Do vậy những sản phẩm được làm
ra ở những thị trường như thế này dễ dàng được người tiêu dùng Nhật Bản
chấp nhận hơn bất kỳ sản phẩm nào được sản xuất ở các nước khác, những
hàng hoá được sản xuất ở Trung Quốc được đối xử như với hàng hoá được sản
xuất tại Nhật Bản vậy.
Hàng may mặc nhập khẩu của Nhật Bản bao gồm hàng dệt thoi và hàng
dệt kim. Dưới đây là bảng số liệu kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản trong
một số năm gần đây.
Kim ngạch nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản
10
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
(Đơn vị:triệu Yên)
Chủng loại 1997 1998 1999 2000 2001
Hàng dệt kim 770.412 782.895 719.019 808.410 853.171
Hàng dệt thoi 995.394 995.394 902.634 1.013.980 1.135.825
Nguồn:Báo cáo của JETRO
Ngoài ra còn có một cách phân loại hàng dệt may nhập khẩu nữa là căn
cứ theo những đặc điểm khác biệt nổi bật nhất của hàng hoá nhập khẩu so với
hàng hoá của Nhật Bản người ta chia ra thành những loại sau:
- Những sản phẩm có sức thu hút, có tính thời trang, có chất lượng cao.
Đó là những sản phẩm đặc biệt hấp dẫn về cả màu sắc, kiểu dáng, chất
lượng sản phẩm, thiết kế cũng như sự khéo léo tinh tế trong từng
đường nét của sản phẩm. Với những đặc điểm nổi bật đó, loại sản
phẩm này thường được nhập khẩu từ những trung tâm thời trang nổi
tiếng trên thế giới tập trung chủ yếu ở Mỹ và các nước EU.
- Những sản phẩm làm từ những loại nguyên phụ liệu hiếm không thể
sản xuất được ở Nhật Bản như len cashmere, vải nỉ angora, hoặc một
số loại len ít phổ biến khác
- Những sản phẩm đòi hỏi nhiều lao động, với nhiều khâu thủ công tỉ
mỉ thường được sản xuất ở các nước đang phát triển có nguồn lao
động dồi dào nhưng giá nhân công lại rẻ.
- Những sản phẩm thủ công mang đậm truyền thống dân tộc của nơi sản
xuất ra nó. Đó là những sản phẩm truyền thống được làm bằng tay.
Hầu như không phân biệt chủng loại, những sản phẩm như thế đều
được nhập khẩu vào Nhật Bản bởi người Nhật rất coi trọng những nét
đặc trưng cá biệt của sản phẩm, đặc biệt là những nét đẹp của từng
nền văn hoá mỗi dân tộc ẩn chứa trong sản phẩm đó.
11
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
1.5. Những nhà cung cấp chủ yếu của Nhật Bản
Hiện tại bạn hàng chính của Nhật Bản là các khu vực, các nước và vùng
lãnh thổ như: Trung Quốc, EU, Mỹ, ASEAN, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng
Kông.
1.5.1.Trung Quốc
Trung Quốc được xem là nhà cung cấp hàng dệt may lớn nhất của Nhật
Bản trên hai thị trường: thị trường đại chúng và thị trường hàng hoá cấp trung.
Theo thống kê xuất nhập khẩu hàng dệt may, Bộ Tài chính Nhật Bản cho biết
có tới 79,6% kim ngạch nhập khẩu hàng dệt kim và 80,4% kim ngạch nhập
khẩu hàng dệt thoi năm 2001 của Nhật Bản là do Trung Quốc cung cấp. Nếu
xét về lượng nhập khẩu thì Trung Quốc còn chiếm thị phần lớn hơn với hàng
dệt kim là 87,7% và hàng dệt thoi là 89,9%. Như vậy Trung Quốc đã chiếm ưu
thế tuyệt đối với cả hai nhóm hàng dệt thoi và dệt kim. Hiện tại không chỉ có
các công ty Nhật Bản mà cả các các doanh nghiệp Mỹ và các hãng kinh doanh
ở EU đã chuyển hoạt động sản xuất của mình sang Trung Quốc nhằm giảm giá
thành sản phẩm và để rút ngắn thời gian giao hàng.
Trung Quốc luôn chiếm ưu thế trên thị trường đại chúng với những mặt
hàng bình dân và thị trường sản phẩm cấp trung bởi nguồn nguyên phụ liệu
trong nước phong phú, lực lượng lao động dồi dào, mức lương không cao.
Chính vì vậy mức giá hàng hoá Trung Quốc đưa ra luôn có sức cạnh tranh lớn
trên thị trường Nhật Bản. Đó là những thuận lợi khiến Trung Quốc chiếm thế
thượng phong với hầu hết các mặt hàng trên hai thị trường kể trên. Trong
những năm vừa qua, với việc gia tăng hoạt động gia công xuất khẩu, Trung
Quốc càng tạo được cho mình một chỗ đứng vững chắc tại thị trường Nhật
Bản.
1.5.2.Hàn Quốc
12
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
Do vị trí địa lý gần kề Nhật Bản nên Hàn Quốc có được những ưu thế về
vận tải hơn các nước khác. Thực vậy hàng hoá từ cảng Pusan của Hàn Quốc
có thể chuyên chở tới cảng Shimonoseki nằm ở phía Tây của Nhật Bản chỉ
trong vòng một ngày. Điều đó đã tạo cho Hàn Quốc những lợi thế nhất định.
Tuy nhiên với sự tăng giá của đồngWon thời gian gần đây và giá nhân công
cao đã làm khả năng cạnh tranh cuả hàng dệt may Hàn Quốc giảm đáng kể
nhất là những mặt hàng dành cho thị trường đại chúng. Vì thế, hiện nay Hàn
Quốc chủ yếu tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt hàng cấp trung hơn
là những mặt hàng bình dân như trước kia.
1.5.3.EU
Tuy bất lợi cả về khoảng cách địa lý cũng như giá nhân công cao hơn
hẳn các nước ASEAN nhưng hàng dệt may của EU vẫn có thể đứng vững trên
thị trường Nhật Bản, bởi những mặt hàng xuất khẩu của EU sang thị trường
này thường là những mặt hàng cao cấp, hợp thời trang và đắt tiền. Đó là
những sản phẩm gắn với những tên tuổi lớn trong ngành công nghiệp thời
trang thế giới, nhưng số lượng cung cấp chỉ có hạn. Ngoài ra EU cũng được
coi là đã khéo léo sử dụng những ảnh hưởng của mình tại thị trường dệt may
Nhật Bản. Song một điều không thể phủ nhận là hàng dệt may của EU được
đánh giá rất cao bởi sự tinh tế trong việc sử dụng màu sắc sản phẩm, việc kết
hợp khéo léo hơn hẳn những sản phẩm của Nhật Bản. Nhưng từ cuối thập niên
80 phần lớn những những sản phẩm của các thương hiệu lớn của EU đều đã
được sản xuất tại Nhật Bản dưới hình thức license chứ không còn được nhập
khẩu trực tiếp từ EU.
1.5.4.Mỹ
Việc nhập khẩu hàng dệt may của Nhật Bản từ Mỹ bắt đầu tăng đáng kể
từ cuối những năm 80. Điều đó đã biến Mỹ trở thành một trong những nhà
13
Khoá luận tốt nghiệp Đoàn Thanh Tú-Trung 1-K38E
cung cấp hàng may mặc quan trọng đối với Nhật Bản. Hầu hết các sản phẩm
nhập khẩu từ Mỹ là những loại quần áo thông thường, thứ đến là những mặt
hàng thời trang. Trên thực tế một trong những thế mạnh về hàng dệt may của
Mỹ là mặt hàng chất liệu cotton.
1.5.5.ASEAN
Bắt đầu từ giữa thập kỷ 80 khi việc xuất khẩu hàng dệt may của các nước
công nghiệp mới (NIEs) sang Nhật Bản có xu hướng giảm thì cũng là lúc các
nước ASEAN như Thái Lan, Inđônêxia, Philippin từng bước tìm chỗ đứng cho
mình trên thị trường Nhật Bản. Mặc dù ngành dệt may tương đối phát triển
nhưng ASEAN vẫn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt từ những hàng hoá
của Trung Quốc. Gần đây hàng dệt may nhập khẩu từ Việt Nam có dấu hiệu
tăng trưởng. Cho dù hiện nay những nước ASEAN vẫn còn cần phải giải
quyết nhiều vấn đề như nguồn nguyên phụ liệu, công nghệ thiết bị sản xuất,
giá nhân công nhưng chắc chắn xuất khẩu của ASEAN sang Nhật Bản sẽ tăng
trưởng trong tương lai.
2. THỊ TRƯỜNG TRUYỀN THỐNG SNG
2.1. Đặc điểm của thị trường SNG
Đây là khu vực địa lý có diện tích lớn nhất thế giới, trải dài trên hai châu
lục Á-Âu, cùng với số dân hơn 300 triệu người, SNG hiện đang là cơ hội để
mở rộng thị trường không thể bỏ lỡ của mọi doanh nghiệp. Thị trường SNG
bao gồm cộng đồng các quốc gia độc lập chủ yếu sau:
- Cộng hoà Liên Bang Nga với diện tích là 17.075.200 km
2
và dân số là
143,5 triệu người.
- Cộng hoà Belarutcia với diện tích là 207.600 km
2
và dân số là 9,9
triệu người.
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét