Thứ Hai, 20 tháng 1, 2014

Ngô Thị Nhậm

Tứ phụ: Ý nói Ngô (Thì) Só là thân phụ, thế tử Khải là quân phụ; Khắc Tuân và
Xuân Hán là phụ chấp (bạn của bố). (Xuất xứ ở sách cố Lê nhất thống chí). Có
thuyết nói: Nguyễn Lệ, Phương Đónh và Khắc Tuân đều là phụ chấp của Nhậm,
nên gọi là tứ phụ.
1

Việc này Hoàng Lê Nhất Thống Chí có chép khác đi một chút như sau:
Lại nói, từ khi vương tử Cán sinh ra, Thế tử Tông có ý rất bực tức, chỉ sợ mình
không được lập làm chúa. Thế tử cùng với bọn gia thần là mấy tên hầu Thế
Thọ, Thẩm Thọ nho sinh Đàm Xuân Thụ và tên xuất thân phận tạp lưu Vónh
Vũ, ngày đêm bàn mưu, lo lắng không biết nên làm thế nào.
Vừa lúc đó, chứng bệnh cũ của chúa lại phát, bệnh tình rất nguy kòch. Một đêm,
Thế tử bỗng mơ thấy mình mặc áo chầu chàm, đội mũ chữ đinh, đứng ở phủ
đường. Sáng mai, Thế tử kể lại với bọn gia thần và nói:
-
Ta mơ như vậy là điềm có tang, trong cung nay mai chắc sẽ có biến, ta phải
sớm lo liệu trước mới được.
Bọn tôi tớ ấy liền khuyên Thế tử nên ngấm ngầm sắm sửa binh khí, chiêu mộ
dũng só: một mai trong cung xảy ra chuyện chẳng lành, thì cứ việc đóng chặt
cổng thành, giết Quận Huy, và bắt giữ cả hai mẹ con Thò Huệ, khiến vương tử
Cán không thể lên ngôi chúa. Mặt khác báo cho hai trấn Tây Bắc (Sơn Tây,
Kinh Bắc) đem quân vào Kinh, bắt ép các đại thần để dựng Thế tử lên ngôi
chúa.


Thế tử nghe theo và phao lên rằng mình sắp được lệnh đem quân vào đánh
miền Nam. Rồi Thế tử lại sai người báo ngầm cho Khê Trung hầu, giao một
ngàn lạng bạc cho nho sinh Đàm Xuân Thụ để Thụ phân phát cho bọn tay chân
đi mua sắm vũ khí. Tiếp đó, Thế tử mật báo cho các viên Trấn thủ ở hai trấn
Tây, Bắc chiêu tập dũng só.
Thế tử cắt đặt xong thì bệnh của chúa cũng vừa khỏi, việc ấy hơi bò tiết lộ. Hồi
đó có Nguyễn Huy Bá người ở Gia Lâm, tính tình nham hiểm giảo hoạt, thường
vẫn quen thói tố giác kẻ khác để kiếm quan chức. Năm trước, chính vì Bá đã tố
cáo âm mưu nổi loạn của Nguyễn Huy Cơ và Th Quận Công mà y được lên
làm chức Tham nghò ở trấn Sơn Nam. Dần đà, y ngoi lên chức Tiến triều, rồi lại
thăng tới chức Đốc đồng ở trấn Thái Nguyên. Lúc này vì có lỗi bò cách chức, y
đang nóng lòng mong lại được ra làm quan. Y bèn sai con dâu cả vào làm đầy
tớ cho Thò Huệ, rồi thường nhặt nhạnh những chuyện chơi bời đùa nghòch của
Tông, xui con dâu kể lại cho Thò Huệ để nònh nọt, lấy lòng. Mặt khác, y lại
ngầm sai người nhà tin cậy tới làm bộ hạ của hai viên trấn quan Tây, Bắc để dò

í i
1
Quốc Sử Quán triều Nguyễn:
Khâm Đònh Việt Sử Thông Giám Cương Mục – Ch nh B ên
(bản dòch
Viện Sử Học Hà Nội, ấn bản điện tử do Lê Bắc, Công Đệ, Ngọc Thuỷ, Tuyết Mai, Thanh Quyên)
http://www.viethoc.org/eholdings/sach/kdvstgcm.pdf trang 951-2

5
xét tình hình. Đến lúc ấy, y đã nắm được phần nào sự việc của bọn này, liền
vào báo với Thò Huệ.
Thò Huệ đem việc đó bàn với Quận Huy, Huy bảo Huy Bá viết bức thư kín, rồi
Huy tự bỏ vào trong tay áo, đi đến phủ chúa, đuổi hết những người chung
quanh, đem thư ra trình chúa.
Chúa xem xong, cả giận, đònh sai người giao xuống trò tội tức khắc. Quận Huy
can rằng:
-
Thế tử quả là có lỗi, nhưng sở dó Thế tử dám làm chuyện to lớn như thế
chính là do hai viên Trấn thủ Tây, Bắc chủ mưu. Nay hai viên ấy vẫn còn
cầm quyền ở ngoài, nếu vội vã trừng trò Thế tử e sẽ có biến khắc. Chẳng thà
trước hết hãy gọi hai viên ấy về triều giam cả ở trong phủ rồi bấy giờ hãy
tuyên bố tội trạng và trừng trò một thể.


Chúa cho là phải. Hôm sau chúa đòi Thế tử vào cung, vờ qû mắng về việc xao
nhãng học hành, rồi bắt Thế tử phải đến ở trong một ngôi nhà ba gian trong
Trạch Các. Lại sai Tiến só khoa Bính Tuất (1766) là Nguyễn Quỳnh làm Tả tư
giảng, và Tiến só khoa Mậu Tuất (1778) là Nguyễn Đính làm Hữu tư giảng. Rồi
sau đó chúa cho đòi hai viên Trấn thủ Tây Bắc về triều, bữa ấy nhằm ngày 15
tháng 8 năm Canh Tý (1780) niên hiệu Cảnh Hưng.
Lại nói, lúc ấy ở trấn Kinh Bắc có viên Đốc đồng Ngô Thì Nhậm Tiến só khoa
Ất Mùi (1775) vốn là gia thần và Tuỳ giảng của Thế tử, thường vẫn rất ăn ý với
Trấn thủ Tuân sinh hầu (Nguyễn Khắc Tuân). Về phía Tuân, không việc gì là
không bàn với Nhậm, duy chỉ có việc âm mưu của Thế tử là Tuân không hề nói
đến. Trước đó mấy ngày Sơn Thọ là gia thần của Thế tử, lại từng là học trò của
Nhậm, được Thế tử sai đến kể rõ mưu mô của Thế tử cho Nhậm biết, rồi lại
ngầm ra lệnh cho Nhậm phái người lẻn lên vùng Lạng Sơn mua ngựa tốt để
dùng vào việc binh. Thì Nhậm hoảng sợ nói:
-
Thế tử là người sẽ nối ngôi chúa, mà nước là nước của Thế tử, lo gì mất ngôi
mà phải lập mưu ấy? Đây ắt lại do bọn tôi tớ xui giục. Thế tử trẻ người hăng
máu, suy nghó chưa chín chắn, nên mới nghe họ. Chúa thượng là người xét
đoán sáng suốt, há lại che giấu được ngài ư? E rằng tai hoạ sẽ xảy ra lúc nào
không biết, bọn gia nhân của Thế tử rồi không còn đất giấu thân đâu.
Đoạn Thì Nhậm vội vã sang kể hết tình đầu cho Khắc Tuân nghe, và khuyên
Tuân phải hoả tốc về kinh, can ngăn Thế tử đừng làm việc đó, để tránh tai vạ
sau này.
Khắc Tuân không nghe, nói rằng:
-
Tiểu chức này với quan lớn, chỉ biết việc tuần phòng khám xét: ngoài ra
những việc không dính líu đến ta, thì không nên hé răng.

6
Thì Nhậm thở dài mà về.
Mấy ngày sau, quả nhiên có lệnh đòi Khắc Tuân và Thì Nhậm. Hai người vội
vàng cùng đi. Tới kinh, họ thấy Trấn thủ Sơn Tây (Hồng lónh hầu Nguyễn Khản)
và a bảo Hân quận công (Nguyễn Đónh) đều đã bò triệu về, còn đang ngồi đợi
tội ở nhà Tả xuyên. Nguyễn Tuân xin vào điếm Quyển Bồng gặp chúa, nhưng
chúa không cho vào, sai viên quan hầu là Quyến Trung hầu ra trách Khắc Tuân
rằng:
-
Cậu và thằng Tông đã muốn làm giặc thì cậu cứ việc ra mà sắp sẵn binh mã,
đây ta đã có các tướng mạnh để đối đòch với cậu!
Khắc Tuân quay ra, gặp Thì Nhậm ở điếm Tiểu bút, Tuân cầm tay Nhậm than:
-
Tôi thờ chúa từ khi lọt lòng đến giờ, nay chúa gọi tôi là giặc. Hôm nọ quan
lớn nói chuyện, tôi cứ cho làm thường, nay việc đã như thế tính sao bây giờ?
Thì Nhậm cũng hoảng hốt chẳng biết trả lời thế nào.
Khắc Tuân liền làm tờ khải, cung khai hết những việc trước rồi nhờ Quyến
Trung hầu đưa vào dâng chúa. Nhưng chúa đang giận, không xem, lại sai
Quyến Trung hầu đem tờ khải ra xé trước mặt Khắc Tuân.
Khắc Tuân lượm lấy tờ khải bò xé ấy mà ra, nhưng sợ hãi luống cuống chẳng
biết đi đường nào.
Viên Trấn thủ Sơn Tây lúc ấy cũng rất lo sợ, có điều muốn nói mà không dám
bày tỏ. Ông ta bèn cùng Khắc Tuân nói với Thì Nhậm:
-
Bọn tôi ở ngôi trọng yếu mà bò lời gièm pha nặng nề, bây giờ dù có nói gì,
chúa cũng chẳng tin. Ngài nên đem những điều nghe thấy viết một tờ khải,
đổ tội cho lũ tôi tớ, như vậy may ra bọn tôi mới khỏi bò oan mà Thế tử cũng
sẽ an toàn không việc gì.
Thì Nhậm bất đắc dó phải làm theo ý hai người. Chẳng ngờ chúa nhận được tờ
khải, lại càng giận dữ nói:
-
Quả như lời nói của người ta không sai.
Rồi chúa sai Thì Nhậm và bọn quan hầu là Ngạn Triêu hầu, Đường Trung hầu,
Án Trung hầu cùng tra xét vụ án đó.
Thì Nhậm cùng bọn quan hầu đònh tìm cách gỡ tội cho Khắc Tuân và viên Trấn
thủ Sơn Tây, nhưng vì nhà có tang Nhậm phải bỏ việc quan mà về.
Chúa bèn giao cho viên Đồng Tham tụng là Nghóa Phái hầu Lê Quý Đôn, Bảng
nhãn khoa Nhâm Thân (1752) làm thay việc tra xét. Cuối cùng nắm hết được
tình hình tội trạng, chúa liền gọi các chính thần vào cung, vừa khóc vừa nói:

-
Quả nhân không may gặp phải thằng con bất hiếu, lũ bầy tôi bất trung,
chúng ngầm mưu việc phản nghòch, hình tích cũng giống như vụ Thừa Kiên,

7
nhưng tâm đòa thì tệ hơn nhiều. Việc bỏ con cả lập con thứ là việc bất đắc
dó. Các ngươi cũng nên hiểu rõ bụng ta, cứ phép nước mà đònh tội nó đi!
Các quan trong triều bàn rằng: mấy tên tội phạm đều nên xử tử còn riêng về
Thế tử thì không dám bàn.
Lời bàn đó dâng lên, chúa cầm bút phê rằng:
-
Cứ xét theo nghóa của kinh Xuân Thu thì phải trò tội tên Tông thật nặng.
Nhưng nghó tình cha con ruột thòt không nỡ như thế, vậy nên truất nó xuống
làm con út, trọn đời giữ đạo làm tôi. Còn bọn các quan thì viên Trấn thủ Sơn
Tây và Khê Trung hầu, vốn đã theo hầu ta từ lúc chưa lên ngôi, cũng có
công lao, đặc ân cho tự liệu lấy. Riêng a bảo Hân Quận công là người thật
thà không tham dự vào mưu đó cũng được tha tội chết, nhưng phải cách chức
xuống làm dân thường.
Mệnh lệnh ban xuống, Khê Trung hầu và Tuân Sinh hầu đều uống thuốc độc tự
tử.
2

Hoàng Lê Nhất Thống Chí là sách của nhà họ Ngô, trong đó một phần do chính Ngô
Thì Nhậm viết nên cố tình viết trại đi để gỡ tội cho mình. Mai Quốc Liên cũng biện
bạch như sau:
Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí (38-39) và Ngô gia thế phả (40) lại chép khác,
rằng khi biết có âm mưu đảo chính thì Ngô Thì Nhậm đã từng can ngăn Nguyễn
Khắc Tuân và khi bò gọi về triều, Ngô Thì Nhậm còn tìm cách gỡ tội cho bọn
họ. Nhưng vừa lúc ấy thì Ngô Thì Nhậm phải về cư tang, việc xét xử chuyển
sang tay Lê Q Đôn. Lê Q Đôn vốn ghét Nguyễn Khản nên mới khép vào
trọng tội. Ngô gia thế phả còn ghi rằng Hoàng Tố Lý (Quận Huy) vốn ghét Ngô
Thì Nhậm, muốn để Ngô Thì Nhậm mắc tai tiếng mới xui Sâm thăng Ngô Thì
Nhậm lên làm Công bộ hữu thò lang. Ngô Thì Nhậm biết Quận Huy hại mình,
muốn cố từ, nhưng em là Học Tốn khuyên nên mềm dẻo để tránh thù oán. Ông
nhậm chức và lấy cớ có tang cha không dâng biểu tạ ơn.
(Ngô Thì Nhậm tác
phẩm I, tr. 38)
Lẽ dó nhiên, chúng ta cũng không gạt bỏ quan điểm cho rằng Ngô Thì Nhậm không
phải là người tố giác việc “
âm mưu phản loạn
” của Trònh Khải nhưng chắc chắn ông
cũng không phải là người tìm cách “
gỡ tội cho bọn họ
”. Cái chết của Ngô Thì Só đã quá
rõ ràng, chính họ Ngô cũng không thể nào nói gì khác được. Tuy nhiên nếu quả Ngô
Thì Nhậm dù không tố cáo nhưng biết chuyện mà không báo thì cũng đồng loã, không
lý nào lại được giao cho nhiệm vụ “
điều tra
” những người đồng phạm khác (
Rồi chúa
sai Thì Nhậm và bọn quan hầu là Ngạn Triêu hầu, Đường Trung hầu, Án Trung hầu
cùng tra xét vụ án đó
– Hoàng Lê Nhất Thống Chí tr. 20). Còn như nếu quả Quận Huy
muốn hại Ngô Thì Nhậm thì đây là dòp bằng vàng để tâu với Trònh Sâm xử tội ông,

2
Ngô gia văn phái:
Hoàng Lê Nhất Thống Chí
(Hà Nội, nxb Văn Học 2002) tr. 15-21

8
việc gì phải cho ông mắc tai tiếng bằng cách xui Trònh Sâm thăng ông lên “
thò lang
”.
Nếu quả ông có công như thế ắt sau khi Trònh Khải lấy lại ngôi vương (1782), người ta
đã chẳng xui Trònh Khải bắt ông, may nhờ vò chúa mới này rộng lượng (có lẽ nể tình
ông là thầy học trước kia) nên ông mới có thể “
chạy trốn về quê vợ ở Sơn Nam trong
gần 6 năm
” (Ngô Thì Nhậm tác phẩm I, 39).
Thực ra Ngô Thì Nhậm là phe cánh của Quận Huy và Thò Huệ, thành thử Nguyễn Khắc
Tuân không dám bàn với ông, nếu không phải là chính phạm chủ mưu tố cáo để đến
nỗi cha ông xấu hổ phải tự tử thì cũng là một người có công rất lớn trong vụ đại án này.
2/ Ba bài biểu “
suy tôn
” Nguyễn Huệ

Sau khi Trònh Khải lấy lại được nghiệp chúa, Ngô Thì Nhậm lúc nào cũng nơm nớp sợ
bò trả thù nên trốn về quê vợ, nghiên cứu sách vở và tôn giáo. Việc đó cũng chỉ là
thường tình của những người bò thất sủng, không phải cao khiết gì, chẳng qua ông chỉ
nằm nhà chờ một cơ hội khác. Vì tâm trạng muốn “
xoá bài làm lại
”, ông trở nên một
trong những người tích cực nhất trong nỗ lực thủ tiêu chính quyền xứ Bắc Hà. Cơ hội đó
đã đến năm 1788, khi Nguyễn Huệ kéo quân ra bắc diệt Vũ Văn Nhậm, sau đó ra lệnh
tìm kiếm quan lại cũ của nhà Lê để làm việc, Ngô Thì Nhậm là người tất tả chạy ra

trình diện
” đầu tiên.
Bấy giờ viên quan văn là Ngô Thì Nhậm vào yết kiến trước, Ước (Võ Văn Ước,
lễ quan có nhiệm vụ đưa những người đến trình diện vào gặp Nguyễn Huệ)
tưởng lầm là hoàng tử nhà Lê, liền mời cùng ngồi với mình. Tiếp đó, bọn Lê
Phiên đến, đều lạy ở dưới dân. Ngô Thì Nhậm trong bụng rất áy náy, vội đứng
dậy đi ra. Ước lấy làm lạ không biết là ai, bèn hỏi:
-
Người vừa ngồi đây là ai thế?
Có người trả lời:
-
Văn ban Ngô Thì Nhậm đấy!
Ước giận mà rằng:
-
Ta vâng mệnh cai quản tất cả, sao lại được vô lễ như vậy?
Rồi Ước tức tốc sai người theo bắt. Ngô Thì Nhậm biết trước chuyện đó, nên lúc
ra, vội vàng trốn tránh ngay.
3

Ngô Thì Nhậm bò truy nã vội chạy đến Trần Văn Kỷ là người thân tín của Bắc Bình
Vương để nhờ che chở. Trần Văn Kỷ đưa ông vào yết kiến, được Nguyễn Huệ phong
cho làm Lại bộ tả thò lang, Tình Phái hầu. Cũng nên biết rằng rất có thể chính Ngô Thì
Nhậm là tác giả của những hàng chữ này
4
nên đã miêu tả một cách vinh quang là vì


3

Hoàng Lê Nhất Thống Chí
tr. 302-3
4
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng những chương về vua Quang Trung trong
Hoàng Lê Nhất Thống Chí

do Ngô Thì Nhậm viết. (
Ngô Thì Nhậm tác phẩm I
, tr. 17)

9
Nguyễn Huệ nghe tiếng ông nhưng cũng có thể chỉ vì ông xung phong ra trước nên
được trọng dụng để cho người khác noi gương.
Dẩu sao cái triều đình rệu rạo ấy chẳng qua chỉ là một thứ bù nhìn, chức vụ của ông
cũng chỉ là một thứ chức hàm để đóng vai chiêu tập quan lại cũ cho dễ. Trong thời gian
ngắn ngủi Nguyễn Huệ ở lại miền Bắc (chỉ chừng vài mươi ngày - tháng 4 đến tháng
6/1788) Ngô Thì Nhậm đã làm được một số công tác nổi bật. Trong khi phần lớn cựu
thần nhà Lê ra cộng tác với tân trào với tâm trạng hoang mang, miễn cưỡng, chiếu lệ
thì Ngô Thì Nhậm tỏ ra tích cực và cố gắng để “
gãi đúng chỗ ngứa
” cho chủ mới.
Ngay từ lần đầu ra Bắc Hà Nguyễn Huệ đã có bụng muốn thay họ Trònh làm chúa. Ông
không vừa lòng với cái tước Nguyên Soái Phù Chính Dực Vận Uy Quốc Công mà vua
Hiển Tông ban cho, đến khi thấy miền bắc quả là “
không có người
” như Nguyễn Hữu
Chỉnh đã nói, trong bụng lại càng khao khát muốn chiếm ngôi nhà Lê. Chính vì thế ông
đã ghét cay ghét đắng ông cháu rể Vũ Văn Nhậm vì cái tội đưa ông Hoàng Tư Lê Duy
Cẩn lên làm “
giám quốc
” khiến ông mất cái dòp “
theo đạo trời để làm vua trong nước

(chiếu lên ngôi). Cũng có thể Vũ Văn Nhậm ngầm thực hiện ý đònh của Nguyễn Nhạc
là dựng nên một nước Bắc Hà song song với Nam Hà hầu chặn đứng tham vọng của
Nguyễn Huệ, vô hình chung trở thành một thứ “
kỳ đà cản mũi
”.
Ngô Thì Nhậm thì lại theo một con đường khác. Ông luôn luôn biết đâu là phía mạnh
và đâu là phe đã thất thế. Trước đây ông đã đứng hẳn về phe Quận Huy và Đặng thò
Huệ, đối kháng với những nhà nho bảo thủ còn tuân thủ triết lý chính thống của Khổng
giáo không tán thành phế trưởng lập ấu để đến nỗi gây ra vụ đại án năm Canh Tý
(1780) thì lúc này ông cũng đã nhìn ra được gió đã đổi chiều. Chỗ ngứa của Nguyễn
Huệ là gì, nếu chẳng phải là lên ngôi hoàng đế, làm chủ luôn cả cõi Bắc Hà. Nguyễn
Huệ không cảm thấy mình phải nợ nần gì nhà Lê, không có liên hệ vua tôi như ông sau
này đã khẳng đònh, ông chưa làm chẳng qua vì thời cơ chưa thuận tiện mà thôi. Chính
vì cái tham vọng của ông quá lộ liễu nên Lê Duy Kỳ đã hoảng sợ bỏ chạy khi quân
Tây Sơn kéo ra bắc, dù dưới danh nghóa phù Lê.
Chỉ chưa đầy một tháng phục vụ chủ mới, thò lang Ngô Thì Nhậm đã tập hợp được một
số cựu thần nhà Lê và soạn ngay một tờ biểu suy tôn để xin Nguyễn Huệ lên ngôi
hoàng đế. Công việc có chiều hấp tấp và lộ liễu đó không được mấy người hưởng ứng,
những người có tư cách đều không ra, có kẻ bò ép thà tự tử nên Nguyễn Huệ phải hậm
hực kéo quân trở về Thuận Hoá.
Văn Huệ sai người lùng hết các bầy tôi văn võ, cưỡng ép họ đến cửa cung
khuyết để cùng đứng tên vào tờ biểu khuyên mời Văn Huệ lên ngôi vua. Huy
Trạc bò bắt đến Ngự sử đài, không chòu ký tên vào tờ biểu ấy, đêm đến, uống
thuốc độc tự tử. Việc này do đó cũng đình chỉ.

10
Văn Huệ ở lại vài ngày, bèn sai Duy Cận đứng giám quốc, giữ việc thời cúng
(tôn miếu nhà Lê) còn mình thì rút quân về Nam
.
5

Hoàng Lê Nhất Thống Chí viết như sau:
Qua vài ngày, Bắc Bình Vương dẫn quân về Nam. Trước khi lên đường, Vương
chọn năm sáu viên văn thần là bọn Phan Huy Ích, Nguyễn Thế Lòch, Ninh Tốn,
Nguyễn Bá Lan phong cho quan tước. Ích làm chức Tả thò lang bộ Hộ, tước
Th Nham hầu, được đưa về Nam còn bọn Lòch, Tốn, Lan thì đều được
phong chức Hàn lâm trực học só, theo Đại Tư Mã Sở ở lại đất Bắc. Nguyễn
Hoàn và Phan Lê Phiên đều xin về dưỡng nhàn, nhưng vẫn được Bắc Bình
Vương cho giữ nguyên chức tước, và sai bộ Lễ cấp phát giấy tờ cho họ trở về
làng xóm. Tham tụng là Bùi Huy Bích, Thiêm đô là Nguyễn Huy Trạc đều có
đến Kinh, nhưng không chòu cho dẫn vào lạy chào. Rồi đang đêm Bích trốn còn
Trạc thì tự tử ở đài Ngự Sử.

Chúng ta không biết Nguyễn Huy Trạc là người thế nào nhưng trong vai ngự sử ông
hẳn phải là một người cương trực. Cái chết của ông không phải Ngô Thì Nhậm thì còn
ai chòu trách nhiệm ở đây?
Thế nhưng theo
Hàn Các Anh Hoa
thì không phải chỉ một lần mà đến ba lần Ngô Thì
Nhậm viết biểu suy tôn Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế để ép các quan ký tên. Đây là
bản dòch của bà Đỗ Thò Hảo trong
Ngô Thì Nhậm tác phẩm I
từ trang 165 đến trang
171:
Tờ Biểu Suy Tôn (lần thứ nhất)
Thần nghe:
Nghóa của Xuân Thu là “đại nhất thống” cho nên bậc vương giả chòu mệnh trời,
hưởng phúc nước, ắt phải thể theo đạo trời, dựng nên ngôi báu, thì sau kỷ cương
mới thống nhất, pháp độ mới phân minh.
Nước Việt Nam ta
6
cõi bờ gồm 13 thừa tuyên, giữa chừng chia cắt hơn 200 năm.
Trước đây vua Thái Đức ghi năm đầu tuy rằng thừa thời cơ mà dựng vò hiệu,
nhưng vẫn chỉ chiếm cứ riêng một phương, thiên hạ chưa đònh hẳn về một mối.
Nay (nhà vua) vâng mệnh trời, thuận lòng người, mở rộng bờ cõi, lần thứ hai xa
giá ra Trung đô, liền có cả thiên hạ. Thế nhưng vẫn mang niên hiệu Thái Đức,
để cho só dân ngơ ngác, không biết qui hướng vào đâu. Nếu không sớm lên ngôi
báu, thì lấy gì để gắn bó lòng người. Cúi mong bậc thánh thông minh, lấy thiên

5

KDVSTGCM – CB
q.XLVII tr. 991 (ấn bản điện tử). Theo ý của đoạn này, cái chết của ngự sử Nguyễn
Huy Trạc xảy ra vào lần suy tôn thứ ba và có thể vì thế mà tình hình đột nhiên căng thẳng nên Nguyễn
Huệ tức tối bỏ về nam. Về sau số người cộng tác với nhà Tây Sơn đông hơn nhưng tới lúc này thì chỉ có
vài người nêu tên ở trên, những người khác trốn tránh hoặc theo vua Lê tìm đường khôi phục.
6
Trong nguyên văn chỉ viết là “
ngã Việt
” nghóa là nước Việt ta chứ không ghi là Việt Nam. Quốc hiệu
Việt Nam lúc này chưa có, tôn trọng dòch giả chúng tôi để nguyên văn.

11
hạ làm trọng, ngẩng lên vâng theo ý trời, cúi xuống xét tình dân chúng, lên ngôi
hoàng đế, xuống chiếu đổi niên hiệu, để thoả tấm lòng suy tôn của thần dân, để
lưu truyền mãi mãi cơ nghiệp ức vạn năm tông xã. Đó là nguyện vọng lớn của
bọn thần vậy.
Theo lý mà nói, lời lẽ trong bài biểu này không có gì là thuyết phục. Thế nào là
“bậc
vương giả chòu mệnh trời?
” (nguyên văn
cố vương giả thụ mệnh hưởng quốc

故王者受命享國 ). Còn bảo vua Thái Đức “
thiên hạ chưa đònh hẳn về một mối
” thì
Nguyễn Huệ cũng chỉ mới làm chủ có một phần giang sơn. Các quan nhà Lê không
khứng chòu việc thay bậc đổi ngôi một cách trắng trợn như thế nên tờ biểu này không
dùng được. Chẳng bao lâu họ Ngô lại viết một bài biểu thứ hai.
Thần nghe:
“Trời giúp thiên hạ đặt ra vua ra thầy” cho nên người có đức lớn ắt được chòu
mệnh trời, làm chúa tể của thần dân thiên hạ. Nước Việt ta từ năm Giáp Ngọ
(1774) trở lại đây, Nam Bắc gây chiến, dân chúng rơi vào cảnh lầm than. May
nhờ lòng trời ghét cảnh loạn lạc, nên chia lâu tất hợp. Bệ hạ thuận theo ý trời,
nắm được thời thế, dấy binh dẹp loạn, cứu trăm họ trong cảnh gian nan, thống
nhất non sông, công trạng hơn hẳn đời trước. (Bởi thế) giữ được mệnh trời, thu
được thần khí, thần dân trong bốn biển đều dụi mắt để xem nền chính trò mới.
Bệ hạ nên theo lệ cũ của triều đại trước, lấy năm đại đònh lên ngôi báu. Trên là
để nối lại giềng mối lớn trời Nam, rồi sau xây dựng kỷ cương, dấy nền pháp độ
của triều đình thì cơ nghiệp dài lâu, thế lực hùng mạnh, sẽ tốt lành mãi mãi đến
ức muôn năm.
Cúi đọc chữ vàng phê phó (thấy): lòng thánh nhân rất mực nhún nhường, việc
lên ngôi trọng đại mênh mang khó hình dung được. Song mệnh trời giao phó,
trăm họ suy tôn, ứng hình tượng rồng bay trong hào ngũ quẻ Kiền chính là việc
hôm nay. Bọn thần hèn mọn, tài năng tầm thường, gặp thời anh minh, dám đâu
không dốc lòng hết sức, để giúp thành nghiệp lớn. Cúi mong bệ hạ hãy soi thấu
cái nghóa của thời cuộc, thể tất tấm lòng của dân chúng, nhận lấy danh nghóa
rạng rỡ của thiên hạ, khiến cho thần dân Nam Bắc có chỗ trông cậy. Rồi ra
được thấy bốn biển mãi mãi thanh bình, nghiệp lớn thêm bền vững, để sánh với
sự hưng thònh của vua Thang, vua Vũ, vượt lên trên công nghiệp của nhà Hán,
nhà Đường. Đó là nguyện vọng lớn của bọn thần vậy.

Bài này cường độ “
tâng bốc
” đã tăng lên một mức, lấy toàn điển cố, sánh Nguyễn Huệ
với các bậc thánh vương trong khi trên thực tế ông chưa làm được gì cho dân miền Bắc
cả ngoài việc vơ vét gạo thóc, kho tàng chở về Nam. Cũng như bài biểu thứ nhất, bài
này cũng không ai hưởng ứng và có lẽ cũng chẳng thèm nhớ đến nếu không được chép
lại trong
Hàn Các Anh Hoa
. Thành thử Ngô Thì Nhậm lại cố công gọt giũa để thêm
một bài “
suy tôn
” lần thứ ba bằng lối văn biền ngẫu:
Trộm nghó:

12
Sao Bắc thần yên vò, ba viên soi Hà Hán huy hoàng.
Ngôi Nam diện sáng ngời, tám cõi ngóng áo xiêm thònh trò.
Vươn cổ ngóng tầng mây, dốc lòng theo bóng nhật.
Chúng thần trộm nghó:
Đạo đức đã tràn đầy ba cực, phải có tay chăn dắt dân đen.
Vua thầy là trách nhiệm một người, chẳng nên bỏ hư lâu ngôi báu.
Nghó Việt Nam ta từ Hùng Vương dựng nước,
Sách trời ghi chép rõ ràng, mười ba tuyên cõi bờ muôn dặm
Dòng họ dõi truyền rực rỡ, vài ngàn năm giềng mối trăm vua,
Thực nhờ sự phù hộ của hoàng thiên, nên mới dám đối chọi với Trung Quốc
Từ đông bắc nhân họ Lê suy yếu, đất đai bèn chia cắt bởi quần hùng
Tuy tây nam có hoàng huynh nổi lên, oai trời chưa tràn lan khắp cõi
Binh xa thì xa xôi không tới, quân mã liền ồ ạt nổi lên
Kể từ năm Giáp Ngọ (1774) khởi binh, rồng thần đã ra tay khắp cõi
Nay tới năm Mậu Thân (1788) gặp vận ngôi thiêng cần đợi bậc thay trời
Vì đức sang hợp sự mở mang, nên bốn cõi vào tay nắm giữ.
Kính nghó hoàng đế bệ hạ:
Trời sinh khí sáng thần giúp tài cao
Một áo nhung gây dựng non sông, là em quý của anh hùng Tây thổ
Ba thước kiếm quyết trừ loạn lạc, là chân nhân sáng suốt cõi trời nam
Một cơn giận dữ dụng võ yên dân, bốn cõi xông pha giương oai dẹp giặc
Từ Tiêm La ra Bắc không một thành bền, vang dậy vẫn ngọn qua vua Vũ
Từ Long Đỗ về nam hai lần xe đuổi, duy trì cho cung điện vua Nghiêu
Công trạng lớn mênh mông khôn tả, chính sự hay rực rỡ đáng ghi
Trăm quan nghiêm huấn lệnh, làm việc binh không để nhiễu dân
Ba tạng để di ngôn, sửa phong tục chẳng cần cầu Phật
Mưu cao mở lối kinh luân, kế giỏi trổ tài vận dụng
Hai kinh mở ra cung điện, gốc nguồn tông xã được vững vàng
Đôi miếu xum họp thân biền, đường lối võ văn đều thực hiện
Công đức thực tốt đều hai mặt, nên trời người thuận cả một chiều

13
Trăm điều bói mộng tốt lành, càng tỏ rõ câu văn trì thống
Dân chúng âu ca qui phục, hiệp theo lời sấm phá điền
Xét theo lý số không sai, so với thời cơ rất hợp
Thánh nhân cân nhắc sự nghe theo, khiêm nhượng nêu cao đức lớn
Dân chúng trông chờ điều đổi mới, suy tôn tỏ rõ lòng thành
Trông cậy khắp trời đâu cũng vậy, qui mô thống nhất chính là đây
Cúi mong:
Sớm lên ngôi báu, rộng mở nghiệp vua
Lời nói việc làm giữ đạo trung dựng xây chế độ
Chủ trương chính sách ở ngôi cao nắm giữ mối giềng
Tế tự dâng nghi lễ kính thành huy hiệu chép tôn nghiêm rạng rỡ
Để được thấy muôn phương an lạc, bốn biển thanh bình
Xuân năm đầu nghiệp lớn mở mang, trông bệ thánh sánh cùng sao sáng
Nước bốn mùa ơn sâu đằm thắm, mừng nhà vua hưởng phúc lâu dài.

Nếu không tìm hiểu về thực trạng lúc đó, bài biểu này ắt sẽ cho chúng ta một hình ảnh
xã hội thiên đàng. Thực ra, tình hình còn đang ngả nghiêng, về hành chánh cũng như
chính trò đều chông chênh quân Tây Sơn đang cố thanh toán nốt những khu vực còn
trung thành với nhà Lê.
Theo lời khai của bọn Nguyễn Huy Túc với quan nhà Thanh thì như châu Hoan, châu
Diễn (tức vùng Thanh Hoá, Nghệ An) và một số trấn Sơn Nam, Sơn Tây, Hải Dương,
Kinh Nam, Kinh Bắc, Tuyên Quang, Hưng Hoá vẫn còn một số thổ hào, hưởng ứng
cần vương nổi lên chống lại nhưng lực lượng yếu ớt, không có gì đáng kể.
7
Tại Yên
Thế có Dương Đình Tuấn, vốn dó là một tay “
anh chò
” ở Lạng Giang, nay hưởng ứng
Cần Vương được phong làm Bình Khấu tướng quân. Trần Quang Châu, Trần Đónh,
Hoàng Xuân Tú ở Chí Linh. Trần Quang Châu được phong là Đònh Vũ Hầu. Ở Thanh
Hoa có con cháu nhà Lê là Lê Duy Trọng, Lê Duy Phác. Hoàng đệ Lê Duy Chi (em
vua Chiêu Thống) thì dấy lên ở Tuyên Quang, Thái Nguyên. Ngoài ra còn vô số các
thổ hào và dư đảng họ Trònh mỗi người làm chủ một cõi.
Theo lời Nguyễn Huy Túc (
阮輝宿
) khai ra thì đất An Nam trước nay có 52 phủ,
trong đó 12 phủ là do thổ mục, man tù sinh sống (tức người vùng núi), còn thực
quyền là 40 phủ, trong đó đạo Thanh Hoa gồm 4 phủ 15 huyện, đạo Tuyên
Quang 3 châu 1 huyện, đạo Hưng Hóa 10 châu 2 huyện là chưa đầu hàng

7
Trang Cát Phát: (莊吉發):
Thanh Cao Tông Thập Toàn Võ Công Nghiên Cứu
(清高宗十全武功研究)
(Trung Hoa thư cục, Bắc Kinh 1987) tr. 353 (đây là bản chụp lại bản của Đài Loan năm 1982) tr. 346.


14

Xem chi tiết: Ngô Thị Nhậm


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét