Thứ Ba, 21 tháng 1, 2014

Giải pháp giảm thiểu rủi ro trong hoạt động cho vay tại Chi nhánh NHNo & PTNT Quảng An Hà Nội.doc

Chuyên đề tốt nghiệp 5
1.1.1.2.2 Hoạt động sử dụng vốn.
Huy động được vốn rồi, vấn đề tiếp theo của các ngân hàng thương
mại là làm thế nào sử dụng được nguồn vốn đó một cách có hiệu quả nhất
nhằm thu lợi nhuận. Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài
sản khác nhau của ngân hàng, trong đó gồm cho vay, đầu tư và hoạt động
ngân quỹ.
Phần lớn nguồn vốn của Ngân hàng thương mại được sử dụng để cho
vay. Có nhiều loại cho vay khác nhau tuỳ theo cách phân chia như: Phân chia
theo thời hạn cho vay, theo mục đích sử dụng tiền vay, theo đối tượng vay,
theo hình thức đảm bảo vốn vay, theo phương pháp hoàn trả vốn vay… Đây
là hoạt động sinh lời cao đồng thời lại chứa dựng rất nhiều rủi ro có thể gây
tổn thất lớn, làm giảm uy tín của ngân hàng. Những khoản mà khách hàng vay
không phải lúc nào cũng được hoàn trả đúng thời hạn như trong hợp đồng tín
dụng mà ngân hàng luôn phải đối mặt với rủi ro mất vốn. Đó là việc khách
hàng không hoàn trả được số tiền đã vay đúng hạn hoặc không có khả năng
trả. Vì vậy các ngân hàng thường có những chính sách hợp lý cho riêng mình
để tạo môi trường quản lý phù hợp cho các khoản nợ làm sao giảm bớt loại
rủi ro này một cách thấp nhất.
1.1.1.2.3. Hoạt động cung cấp các dịch vụ tài chính.
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và
doanh nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định
các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu, thực hiên các dịch vụ đó có hiệu
quả. Các dịch vụ đó bao gồm mua bán ngoại tệ, bảo quản vật có giá, cung cấp
các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, bảo lãnh, cho thuê các thiết bị
trung và dài hạn, các dịch vụ ủy thác và tư vấn, môi giới đầu tư chứng khoán,
dịch vụ bảo hiểm, các dịch vụ đại lý
1.1.2. Hoạt động cho vay của NHTM
Phạm Thị Hồng Nhung – TC45B
Chuyên đề tốt nghiệp 6
1.1.2.1. Khái niệm:
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho
khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian
nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc lẫn lãi.
Như vậy có thể hiểu tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một
lượng giá trị từ người cho vay sang người đi vay để sau một thời gian nhất
định thu về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu.vay mượn dựa trên
nguyên tắc hoàn trả, nghĩa là người cho vay .
Cho vay là hoạt động của ngân hàng chuyển quyền sử dụng khoản tiền
vay cho khách hàng từ đó ngân hàng thu lợi nhuận cho mình. Đối với người
đi vay thì món vay là một khoản nợ nhưng đối với ngân hàng thì đây lại là tài
sản có vì nó đem lại thu nhập cho ngân hàng.
Mặc dù cho vay là hoạt động mang lại thu nhập lớn song rủi ro rất cao.
Rủi ro này có rất nhiều nguyên nhân, đều có thể xảy ra tổn thất làm giảm thu
nhập của Ngân hàng. Có nhiều khoản tài trợ mà tổn thất có thể chiếm phần
lớn vốn của chủ, đẩy Ngân hàng đến phá sản. Do vậy, các Ngân hàng phải
cân nhắc kỹ lưỡng, ước lượng khả năng rủi ro và sinh lời khi quyết định tài
trợ. Nên phải thẩm tra trước, trong và sau khi cho vay.
1.1.2.2. Phân loại:
* Phân loại theo thời gian: Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan
trọng đối với Ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và
sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời
gian cho vay được phân chia thành cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và
cho vay dài hạn.
Cho vay ngắn hạn là những khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở
xuống. Đây là hình thức cho khách hàng vay để mua sản lưu động hoặc nhu
cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nước, doanh nghiệp, hộ sản xuất. ngân
Phạm Thị Hồng Nhung – TC45B
Chuyên đề tốt nghiệp 7
hàng có thể áp dụng cho vay trực tiếp hoặc gián tiếp, cho vay theo món hoặc
theo hạn mức, có hoặc không cần đảm bảo, dưới hình thức chiết khấu, thấu
chi hoặc luân chuyển. Cho vay ngắn hạn do chỉ trong một thời gian ngắn nên
khách hàng thường sử dụng đúng mục đích vay như đã thỏa thuận nên khả
năng hoàn trả tốt, vì vậy mức độ rủi ro là thấp.Tuy nhiên cũng không tránh
khỏi tổn thất do biến cố gây ra. Ngay cả việc cho Nhà nước vay, khả năng
hoàn trả là rất cao song vẫn có những trường hợp Nhà nước mất khả năng chi
trả khi đến hạn.
Cho vay trung hạn là những khoản vay từ trên 1 năm đến 5 năm, các
khoản vay trên 5 năm là cho vay dài hạn. Những khoản cho vay trung và dài
hạn này có nhiều khả năng dẫn đến rủi ro hơn cho vay ngắn hạn. Do thời gian
vay kéo dài, việc khách hàng sử dụng vốn không theo mục đích hoặc theo
mục đích đã thỏa thuận nhưng tình hình kinh doanh không theo ý muốn của
khách hàng hay do những rủi ro khác dẫn đến việc khách hàng mất khả năng
chi trả. Vì vậy nên mức lãi suất của việc cho vay trung và dài hạn thường cao
hơn cho vay ngắn hạn.
* Phân theo tài sản đảm bảo:
Tài sản đảm bảo cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thứ hai
bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất không có hoặc không
đủ.
Trong trường hợp độ an toàn của người vay không chắc chắn, ngân
hàng đòi hợp đồng đảm bảo khi đó khoản vay này được gọi là khoản vay có
tài sản đảm bảo. Các đảm bảo của khách hàng nhằm hạn chế bớt các thiệt hại
cho ngân hàng khi khách hàng có khó khăn không trả được nợ. Điều này giúp
ngân hàng giảm đáng kể thiệt hại nếu khách hàng mất khả năng thanh toán,
hoặc làm cho khách hàng có trách nhiệm hơn trong khoản vay của mình.
Phạm Thị Hồng Nhung – TC45B
Chuyên đề tốt nghiệp 8
Khi ngân hàng cho vay dựa trên uy tín của khách hàng trong trường
hợp khách hàng truyền thống, có uy tín, Ngân hàng không cần ký hợp đồng
đảm bảo thì được gọi là cho vay không có tài sản đảm bảo. Đó thường là khách
hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình
trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay.
Các khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu, không
cần tài sản đảm bảo. Các khoản cho vay đối với các tổ chức tài chính lớn, các
công ty lớn, hoặc các khoản cho vay trong thời gian ngắn mà Ngân hàng có
khả năng giám sát việc bán hàng… cũng có thể không cần tài sản đảm bảo.
Đối với cho vay không có tài sản đảm bảo vì dưới sự đánh giá của ngân hàng là
độ an toàn cao, không sợ rủi ro mất khả năng thanh toán. Nhưng trên thực tế thì
những khoản vay này vẫn mang đến những rủi ro nhất định và khi đó việc thu hồi
nợ là rất khó vì không có nguôn thu nợ thứ hai nên có khả năng mất trắng
* Theo mục đích:
Cho vay bất động sản: Bao gồm các khoản cho vay xây dựng ngắn hạn
và giải phóng mặt bằng cũng như các khoản cho vay dài hạn để mua đất canh
tác, nhà, trung tâm thương mại và mua các tài sản nứơc ngoài. Đối với loại
hình cho vay này, ngân hàng được đảm bảo bằng chính tài sản thực: đất đai,
toà nhà và các công trình khác.
Đối với khoản vay này tài sản đảm bảo thường có giá trị vì vậy rủi ro
thấp. Mặc dù vậy ngân hàng vẫn phải đối mặt với rủi ro đạo đức của khách
hàng gây ra hay trong trường hợp giá cá biến động bất thường…
Cho vay đối với các tổ chức tài chính: Bao gồm các khoản tín dụng
dành cho ngân hàng , công ty bảo hiểm, công ty tài chính và các tổ chức tài
chính khác. Hình thức cho vay này cũng không nằm ngoài khả năng có thể có
rủi ro không thu hồi được vốn, đặc biệt là khi các tổ chức này phá sản hay vỡ
nợ.
Phạm Thị Hồng Nhung – TC45B
Chuyên đề tốt nghiệp 9
Cho vay nông nghiệp: Nhằm hỗ trợ nông dân để trang trải các chi phí
sản xuất như phân bón, thuốc trừ sâu, giống cây trồng, thức ăn gia súc, lao
động, nhiên liệu. Vì nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết nên hiện
tượng mất mùa thường xuyên xảy ra. Mặt khác người nông dân thì thu nhập
chính của họ là nông nghiệp nên khi đó khả năng trả nợ của họ là rất khó.
Cho vay công nghiệp và thương mại: giúp doanh nghiệp trang trải các
chi phí như mua hàng nhập kho, trả thuế, trả lương cho cán bộ công nhân
viên. Với trường hợp này trước khi cho vay ngân hàng phải thẩm định tình
hình hoạt động của doanh nghiệp, bên cạnh đó ngân hàng thường xuyên giám
sát con nợ của mình để kịp thời sử lý khi có dấu hiệu rủi ro xảy ra. Nhưng
ngân hàng vẫn không thể tránh khỏi xảy ra rủi ro khi các doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ.
Cho vay cá nhân: là loại cho vay để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng
như mua sắm các vật dụng đắt tiền, ngày nay ngân hàng còn thực hiện các
khoản cho vay để trang trải các chi phí thông thường của đời sống thông qua
phát hành thẻ tín dụng. Cho vay cá nhân có độ rủi ro khá cao. Nếu người vay
bị chết, ốm hoặc bị mất việc ngân hàng sẽ khó thu được nợ. Vì vậy, ngân
hàng thương yêu cầu lãi suất cao, yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thất
nghiệp, nhân thọ, bảo hiểm hàng hóa đã mua… Để ngân hàng giảm tổn thất
khi rủi ro xảy ra.
Cho thuê tài sản: Ngân hàng mua thiết bị máy móc hay phương tiện và
cho khách hàng thuê. Đối với hình thức này ngân hàng có quyền thu hồi tài
sản nếu thấy người thuê không thực hiện đúng hợp đồng. Ngân hàng sẽ gặp
rủi ro khi khách hàng kinh doanh không có hiệu quả, không trả được tiền thuê
đầy đủ và đúng hạn. Nhiều tài sản thuê mang tính đặc chủng, khó bán, khó
thuê lại, khi thu hồi chi phí tháo dỡ cao,…nên rủi ro cho thuê rất cao đối với
ngân hàng. Do vậy khi cho thuê ngân hàng phải phân tích tín dụng đồng thời
Phạm Thị Hồng Nhung – TC45B
Chuyên đề tốt nghiệp 10
phân tích thị trường tài sản cho thuê, đánh giá nhà cung cấp, lựa chọn các
hình thức cho thuê thích hợp. Ngân hàng đòi hỏi người thuê phải mua bảo
hiểm tài sản.
1.1.2.3. Vai trò của hoạt động cho vay
Ngân hàng với mạng lưới trải rộng của nó trong nền kinh tế, đã tập
trung được một số lớn nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để hình thành quỹ cho
vay. Các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi, nhàn rỗi có thời hạn hoặc nhàn rỗi lâu
dài, được tập trung vào ngân hàng bằng những cơ chế chính sách và các lãi
suất khác nhau.
Trên cơ sở quỹ cho vay đã có, các tổ chức tín dụng tiến hành phân phối
nguồn vốn này cho các đối tượng có nhu cầu cần bổ sung vốn. quá trình này
không những đòi hỏi phải tuân theo các nguyên tắc cho vay mà còn phải chấp
hành đầy đủ những quy định của pháp luật.
Hoạt động cho vay có các vai trò quan trọng đối với nền kinh tế cũng
như đối với ngân hàng. Nhưng bản thân hoạt động này lại chứa đựng nhiều
rủi ro dẫn đến những hậu quả đáng tiếc cho ngành ngân hàng nói riêng và cho
toàn bộ nền kinh tế nói chung.

Ngân hàng cho vay đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp để
duy trì và mở rộng quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cho vay trong ngân hàng làm nhiệm vụ dẫn đường cho nguồn vốn
chảy từ nơi thừa tới nơi thiếu vốn. Bởi lẽ trong hoạt động kinh doanh tại một
thời điểm luôn luụn phát sinh hai loại nhu cầu: cho vay vốn để hưởng lợi và
nhu cầu vay vốn để tiến hành sản xuất kinh doanh là điều tất yếu. Hai nhu cầu
này là ngược nhau nhưng có chung mục tiêu là an toàn, sinh lời và đều là tạm
thời. Cho vay trong ngân hàng đã thực hiện chức năng huy động và tập trung
vốn tạm thời nhàn rỗi để đưa vào sử dụng theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn lẫn
lãi trong một khoảng thời gian nhất định với tốc độ nhanh và hiệu quả hơn.
Phạm Thị Hồng Nhung – TC45B
Chuyên đề tốt nghiệp 11
Nhưng không phải lúc nào doanh nghiệp đi vay vốn về đều làm ăn có
lãi, đạt kế hoạch mà dự án đã nêu, nên khi doanh nghiệp gặp khó khăn về tài
chính hay sử dụng vốn không hiệu quả dẫn đến việc làm ăn thua lỗ không trả
nợ được đã làm ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn của ngân hàng. Như vậy
càng đòi hỏi khâu thẩm định của ngân hàng ngày càng kỹ càng chặt chẽ chính
xác hơn
• Cho vay trong ngân hàng là công cụ đắc lực cho ngành kinh tế
kém phát triển và những ngành kinh tế mũi nhọn.
Bằng việc sử dụng lãi suất ưu đãi đối với những ngành kinh tế mũi nhọn
cũng như những ngành kinh tế kém phát triển nhưng cần thiết cho quốc kế dân
sinh, ngân hàng cho vay góp phần thúc đẩy những ngành kinh tế này phát triển.
Cũng như việc đáp ứng nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, nếu việc sử dụng
vốn là phù hợp vai trò đó được phát huy. Nhưng ngành kinh tế kém phát triển
ấy có bứt ra khỏi tình trạng đó không hay lại tiếp tục suy sút và đem đến rủi
ro cho ngân hàng. Còn nghành kinh tế mũi nhọn sẽ ít có khả năng gây ra rủi
ro cho ngân hàng. Tuy nhiên ngân hàng vẫn không thể chủ quan đối với lĩnh
nghành này.
• Cho vay trong ngân hàng có vai trò quyết định đến sự ổn định của
lưu thông tiền tệ.
Do tính ưu việt của mình tín dụng ngân hàng đóng vai trò quyết định
đến sự ổn định của lưu thông tiền tệ. Trước hết ngân hàng là kênh quan trọng
để đưa tiền vào lưu thông, có khả năng kiểm soát được khối lượng tiền sao
cho phù hợp với lưu thông hàng hoá. Nếu tín dụng ngân hàng được thực hiện
một cách có hiệu quả sẽ đảm bảo khối lượng tiền cung ứng phù hợp. Vì khi
cho vay Ngân hàng đã đưa tiền vào lưu thông. Mặc khác cùng với chức năng
tạo tiền, các ngõn hàng thương mại có khả năng mở rộng tiền gửi làm tăng
khối lượng tiền trong lưu thông
Phạm Thị Hồng Nhung – TC45B
Chuyên đề tốt nghiệp 12
. Vai trò của cho vay quan trọng như vậy nhưng khi rủi ro trong hoạt
động cho vay xảy ra, tức là dòng tiền mà ngân hàng không thu hồi được đó đã
không còn lưu thông theo đúng chu trình của nó. Như vậy rủi ro tín dụng
không chỉ gây tổn thất cho ngân hàng mà còn làm mất đi vai trò quan trong
này, làm ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.
• Cho vay ngân hàng có vai trò kiểm soát nền kinh tế.
Qua việc huy động vốn của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư
trong xã hội và việc tổ chức thanh toán khách hàng mà ngân hàng có thể đánh
giá tình hình tiêu thụ sản phẩm, tình hình sản xuất và khả năng chi trả của
khách hàng thể hiện qua biến động số dư trong tài khoản. Trong quá trình cho
vay, ngân hàng luôn phải đề phòng nguy cơ rủi ro có thể xảy ra, phải thường
xuyên phân tích khả năng tài chính của khách hàng, giám sát kiểm tra hoạt
động sản xuất kinh doanh của họ để có thể điều chỉnh, tác động kịp thời khi
cần thiết. Và cũng từ đó, ngân hàng có khả năng tập hợp được tình hình sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đồng thời góp những ý kiến để điều
chỉnh kịp thời khi có sự mất cân đổi trong cơ cấu kinh tế.

Cho vay trong ngân hàng đóng vai trò quyết định trong hoạt động
ngân hàng.
Cho vay trong ngân hàng đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
cũng như đối với sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng thương mại. Vỡ
cho vay mang lại nguồn thu nhập lớn cho ngân hàng.
. Tuy nhiên con người luôn phải đối mặt với sự đánh đổi mà cụ thể ở
đây là lãi suất và rủi ro. Lãi suất càng cao thì rủi ro càng nhiều. Chính vì vậy
các ngân hàng phải xác định được một tỷ lệ phù hợp để có thể đạt được mục
tiêu lợi nhuận của mình.
Phạm Thị Hồng Nhung – TC45B
Chuyên đề tốt nghiệp 13
1.2. Rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM
1.2.1. Quan niệm về rủi ro trong hoạt động cho vay
Một ngân hàng thương mại hoạt động phải đối mặt với nhiều loại rủi ro
khác nhau như rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái, rủi ro thanh khoản và loai rủi ro
phổ biến là rủi ro do hoạt động cho vay gây nên. Rủi ro trong hoạt động cho
vay là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng
vay không trả đúng hạn, không trả, hoặc không trả đầy đủ vốn và lãi. Khi thực
hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản cho
vay đó bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro.
Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, tỷ lệ tổn
thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn được xác định trong chiến lược
hoạt động chung. Do vậy, khi tổn thất dưới mức tỉ lệ tổn thất dự kiến, ngân
hàng coi đó là một thành công trong quản lý.
Có hai loại rủi ro trong cho vay là rủi ro có thể kiểm soát được và rủi ro
không thể kiểm soát được.
Rủi ro có thể kiểm soát là rủi ro ngân hàng có thể dự đoán được chủ
thể gây ra rủi ro đó, và có thể ước tính được mức độ ảnh hưởng và thời gian
phát sinh của chúng. Từ đó có những biện pháp hợp lý để phòng ngừa và hạn
chế tổn thất ở mức thấp nhất. Nguyên nhân của loại rủi ro này có tính chủ
quan từ phía khách hàng hay từ chính bản thân ngân hàng.
Rủi ro không thể kiểm soát được là rủi ro mà ngân hàng không xác
định chính xác ảnh hưởng của chúng. Nguyên nhân của những rủi ro này là
thường là những nguyên nhân bất khả kháng.
1.2.2. Chỉ tiêu phản ánh rủi ro trong cho vay ngân hàng.
Khi ngân hàng hoạch định chiến lược phát triển chung, muốn xác định
rủi ro dự kiến thì phải lượng hóa được rủi ro đó. Đo lường rủi ro là cơ sở cho
ngân hàng xây dựng chính sách tín dụng hợp lý, chính sách lãi suất phù hợp
Phạm Thị Hồng Nhung – TC45B
Chuyên đề tốt nghiệp 14
cho từng thời kỳ và xây dựng hệ số rủi ro cho từng tài sản và cho từng loại
hình cho vay. Có rất nhiều tiêu chí phản ảnh rủi ro tín dụng của ngân hàng
thương mại. Sau đây em xin nêu một vài chỉ tiêu các ngân hàng thường sử
dụng.
* Nợ quá hạn và tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ (chỉ tiêu định tính).
Trong thành phần dư nợ của ngân hàng được phân làm năm nhóm: từ
nhóm 1 đến nhóm 5, với cấp độ nguy cơ xảy ra tăng dần. Trong đó nợ nhóm 1
là nợ đạt tiêu chuẩn; nợ nhóm 2 là nợ đáng chú ý; nợ nhóm nhóm 3, nhóm 4,
nhóm 5 được gọi là nợ xấu. Như vậy nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 là nợ quá hạn,
đó là những khoản nợ khách hàng vay nhưng không trả được khi đến hạn đã
ghi trên hợp đồng. Có hai loại nợ quá han.
Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: là khoản nợ mà khách hàng vẫn còn có
khả năng tiếp tục trả nợ cho ngân hàng. Đó là do khi cho vay cán bộ tín dụng
không quan tâm đến chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Họ đặt kỳ hạn nợ
ngắn để hạn chế rủi ro tín dụng trong khi đó chu kỳ kinh doanh mang tính
thời vụ hoặc doanh nghiệp gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn bất ngờ khiến
cho người vay không trả nợ đúng hạn.
Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi: là khoản nợ mà khách hàng ít
có khả năng trả được nợ cho ngân hàng khi đó ngân hàng đứng trước nguy cơ
mất vốn. Thường thì do nguyên nhân doanh nghiệp làm ăn thua lỗ hoặc cố
tình lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng. Tóm lại nợ quá hạn càng cao thì
rủi ro càng lớn. Để đánh giá khoản nợ này người ta tính chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá
hạn trên tổng dư nợ
Số dư Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Phạm Thị Hồng Nhung – TC45B

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét